Chương 1
Đồng Sa Băng.
Tháng Tư Nhớ … Tháng Tư.
“Ầm… Ầm.”
Tiếng nổ của hai trái hỏa tiễn làm vang rền bầu trời cư xá Ngân Hàng. Khói lửa bay ngút trời. Tiếng động cơ trực thăng, tiếng súng và tiếng kêu khóc của con người nhào trộn thành một thứ âm thanh khủng khiếp. Trên kênh Tẻ không còn đến một chiếc xuồng con lảng vảng, không phải vì thế mà dòng sông êm đềm trôi.
Hôm đó là ngày 26 tháng 4 năm 1975!
Sài Gòn chưa mất nhưng Sài Gòn đang thoi thóp, Sài Gòn đang nghẹt thở yếu dần, Sài Gòn đang bấn loạn với hàng trăm người hàng ngàn người cùng xe cộ, và những bước chân vội vàng rời bỏ Sài Gòn.
Mọi người tìm đường chạy ra khỏi thành phố và trên cầu Tân Thuận, hướng về Nhà Bè kẹt cứng. Tôi ngược dòng người khi đến giữa cầu thì tiếng máy cạch cạch của hai con “óc nóc” đang ngự trị và làm chủ bầu trời với những âm thanh muốn làm vỡ toang màng nhĩ. Tôi đứng trên chỗ cao nhất của cầu Tân Thuận giương mắt nhìn hai con “quạ sắt” đang hoành hành bầu trời cư xá Ngân Hàng. Tiếng máy ầm ầm từ hai chiếc trực thăng lấn át và nhận chìm những tiếng động cơ xe hơi uể ỏa nằm tê liệt trên cầu.
Hai con “quạ sắt” rà trên khu dừa nước như hai con chim bói cá đang găm mắt rình mồi. Những cánh chong chóng quay tít tạo thành một vòng tròn mờ ảo trên đầu. Rặc một tiếng, đuôi trực thăng đổi chiều đẩy khối sắt nhào về hướng phát ra mảnh khói xanh, và, xẹt xẹt hai quả rocket từ dưới bụng con “chim sắt” phóng ra nhắm vào hàng dừa nước trước mặt. Hai vệt khói trắng chưa kịp tan biến trên nền trời thì những thân cây dừa nước bắn tung lên khỏi mặt đất và hai tiếng nổ ầm ầm long trời lở đất. Hai chiếc trực thăng quay đầu trở lại quần thảo trên bầu trời, tiếng đại liên cạch cạch cạch nhả ra từ hai con “chim sắt” cày nát khu dừa nước và những cây bình bát. Tiếng súng vừa dứt thì xẹt xẹt những quả rocket còn lại dưới bụng tiếp tục phóng đi, những đường khói trắng được kẻ chi chít lên nền trời, và liên tục những tiếng nổ chát tai, để lại những cột khói, lửa. Và mặt nước trên con rạch Dừa sóng dậy cuồn cuộn. Nhả hết “bầu tâm sự”, hai con “chim sắt” quay đầu bay về hướng cầu chữ Y. Để lại những ngọn dừa nước, những cây bình bát bên cạnh cư xá Ngân Hàng bốc cháy.
Bóng người và tiếng súng cũng im đi. Bên tai tôi chỉ còn nghe tiếng máy ầm ì của đoàn xe nhúc nhích từng ly bò qua cầu Tân Thuận.
Ngày 26 tháng 4, dưới chân cầu Tân Thuận phía bên kho 11, Khánh Hội, con đường bị chận lại không cho người vào thành phố. Tôi mò lên cảng Kho 5 và bến Bạch Đằng nơi có nhiều tàu bè để tìm đường đi. Nhưng không qua được, tôi quay đầu trở lại.
Nhà tôi nằm trên Tỉnh Lộ 15. Con đường Tỉnh Lộ 15 từ Sài Gòn về Nhà Bè bắt đầu từ ngày 24 tháng 4 người và xe cộ chạy tấp nập. Những chiếc xe Peugeot 203 màu đen bóng chở những gương mặt xa lạ, lớn bé già cả trai gái với những vali ngỗn ngang đua nhau về Nhà Bè.
Những ngày dầu sôi lửa bỏng ở Sài Gòn các trường đại học đóng cửa, tôi thường ghé thăm Lim và nói chuyện ra đi. Tôi chơi thân với Lim và Lim là em trai của Phương. Nhà Phương cách nhà tôi hai cái vườn và năm đó Phương học ở đại học Văn Khoa. Phương và Lim còn có người chị tên Na, chị Na đang theo học Sinh Lý Sinh Hóa ngoài Thủ Đức, mộng vào trường Y khoa Sài Gòn. Bình nhật tôi thường qua chơi với Lim. Mỗi lần qua chơi Phương hay bẻn lẻn lúc gặp mặt tôi. Phương có cái bớp trên má, mà mỗi lần ra nắng cái bớp xanh lại hiện lên rõ hơn, hay có lẽ cái nắng làm cho da mặt Phương hồng thêm, cho nên cái bớp xanh nổi bật ra. Đôi mắt Phương đen long lanh, và nụ cười của Phương càng làm tăng thêm vẽ đẹp đôi mắt, mỗi lần Phương cười nhìn tôi. Nhưng tâm hồn Phương rất hồn nhiên, những lần gặp mặt đột ngột Phương chỉ “chào anh” thật nhỏ rồi cuối mặt, chân đá những hạt bụi bên đường bước đi thật lẹ.
Hôm nay tôi đến tìm Lim. Ông Tri Phương, ba của Lim nói:
-“Cho bác gởi con Phương và Lim cho cháu.”
Tôi mở miệng nói “dạ” như cái máy!
Làm như tôi đã rành đường đi nước bước lắm! Nhưng chỉ trong một thoáng, tôi nhìn Phương và trong đôi mắt hoài nghi của Phương hình như nàng đang nói: “Anh có biết đường không mà làm tài lanh đó!”
Hôm đó tôi rất mạnh dạng. Tôi đến nắm tay Phương và nói:
-“Sửa soạn đồ đi, mình xuống Nhà Bè ngay bây giờ.”
Nói xong tôi liền rời nhà Phương chạy về lấy túi hành trang đã có sẳn.
Trên đường về nhà tôi thầm nói: “Ít ra ông Tri Phương còn có chút mạo hiểm. Chứ có đâu như Mẹ và người anh cả tôi, lúc nào cũng nói: Mầy chỉ là thằng sinh viên, làm gì mà sợ, đi cho chết sao.”
Tôi vẫn biết mình chỉ là một tên sinh viên cột gà chưa chặt, nhưng sao tôi vẫn muốn đi. Câu nói: “Các con làm gì thì làm nhưng đừng bao giờ làm cộng sản” của Cha tôi hồi còn sinh thời, lúc này thường quanh quẩn trong đầu tôi. Chắc chắn trong câu nói của Cha tôi có điều gì to lớn lắm nên đã hằn sâu trong tâm khảm của ông. Nhiều ngày nay tôi năng nỉ Mẹ và các anh cho tôi đi. Nhiều khi sự chống đối quá quyết liệt và tôi đã nói:
-“Con chấp nhận cái chết, nếu không thì 20 năm sau con sẽ trở lại.”
Có nghĩa là tôi đã đánh đồng sinh mạng bằng 50 phần trăm sống và chết, khi quyết định ra đi. Cuối cùng Mẹ tôi đành nói:
-“Thôi, nếu con nói như vậy thì cứ tìm đường đi đi, để sau này con không trách móc ai.”
Những ngày này đâu đâu cũng bàn tán chuyện ra đi và trên dài phát thanh còn loan tin có những đoàn người ra đến biển thì bị bắn chết hoặc bị bắt trở về ngồi tù. Những lời đồn làm hoang mang nhiều người và gây ra sợ sệt. Vì vậy mà Mẹ tôi, người anh cả và người Cậu cứ nghĩ rằng: “Đất nước hết chiến tranh, chính quyền sẽ giúp cho dân làm ăn giàu mạnh, chứ có ai bắt bớ hành hạ đâu mà đi vào chỗ chết.” Cho nên không hưởng ứng chuyện ra đi.
Tôi lấy túi hành trang, vỏn vẹn chỉ có bộ sách Toán Lý Hóa, cuốn Giải Tích, cuốn tự điển Anh-Việt Việt-Anh của Lê Bá Kông, một cây sáo trúc và khoảng mười gói mì ăn liền. Trong nhà lúc này vắng tanh, chỉ có Mẹ và đứa em gái út lẩn quẩn nhìn ra đường. Tôi ôm Mẹ hun lên trán một cái và nói:
-“Con đi nhe Mẹ.”
Chỉ bấy nhiêu thôi rồi tôi đến xoa đầu đứa em gái:
-“Ở nhà ngoan, anh đi.”
Mẹ tôi buồn, nhìn tôi và chỉ nói được mấy tiếng:
-“Con đi thật sao!”
Rồi đưa mắt nhìn theo.
Tôi đi bộ trở lại nhà Phương. Phương và Lim đã sửa sọan xong hành lý, mỗi người gọn gàng chỉ một vali nhỏ, tôi không biết đựng những gì trong đó. Phương nói với tôi:
-“Chị Na cũng đi luôn nhe anh.”
Tôi trả lời gọn:
-“Ừ, đi luôn.”
Chúng tôi rời nhà Phương xuống Nhà Bè. Hỏi thăm và tìm hết mọi nơi nhưng tuyệt nhiên không thấy dấu vết gì về những chiếc tàu thủy đậu ngòai sông Nhà Bè để bốc người đi! Thất vọng, ảo nảo. Chúng tôi quanh trở về. Tôi nói với Phương:
-“Hết đường rồi, cảng Sài Gòn và bến Bạch Đằng thì bị cô lập, sông Nhà Bè cũng không có tàu bè nào đậu đó. Chắc anh không giúp được gì đâu, thôi chắc mình nằm đây chờ trận.”
Phương cũng buồn nhìn tôi ra về. Thì ra mấy ngày nay tin dưới Nhà Bè có những chiếc tàu thủy cập bến chờ bốc người đi chỉ là lời đồn, và cũng vì những lời đồn đó mà mấy ngày nay Tỉnh Lộ 15 người xuống Nhà Bè nườm nượp!
Mấy ngày này tôi nao ức được đi nhưng không biết đi bằng cách nào, và tôi thường ra bờ sông Sài Gòn ngồi nhìn.
Tôi nhớ về Tân Thuận ở được vài ba năm thì Cha tôi qua đời. Sau ngày đưa Cha tôi về quê an táng ở Núi Đồi, Mẹ tôi mua khu đất của ông Tri Phương ngoài mặt Tỉnh Lộ 15, xây lên căn nhà và anh tôi mở tiệm sửa xe ở đó. Ngoài những giờ học tôi phụ anh Hạnh sửa xe. Năm tháng trôi qua, tôi lớn lên ở đó, sau ngày đỗ Tú Tài tôi vào đại học Khoa Học Sài Gòn thì Phương cũng vào trường đại học Văn Khoa. Ông bà Tri Phương làm nghề buôn bán vật liệu xây cất và đặt tên cửa hiệu Tri Phương. Tôi biết chữ Phương lấy từ tên của người con gái giữa, chị của Lim. Ông Tri Phương người quê Long Xuyên, An Giang về lập nghiệp nơi đây từ đầu thập niên 60. Bà Tri Phương người xề xòa, hiên lành, những buổi chiều tối bà luôn ra trước sân đốt vài ba cây nhan vái bốn phương tám hướng. Sau này bà Tri Phương thường qua chơi trò chuyện với Mẹ tôi.
Những ngày cuối tháng Tư ngồi trên bờ sông Sài Gòn nhìn về bầu trời Thủ Thiêm lúc nào cũng có khói lửa chiến tranh nghi ngút.
Trưa 29 tháng 4 tôi ra căn cứ chuyển vận Hải Quân kho 18 ở Tân Thuận Đông chơi và xem tình hình. Đến cổng kho 18 tôi thấy nhiều người hôi của đang khuân vát những thùng đồ từ kho 18 ra. Tôi men theo bờ rào xuống căn cứ chuyển vận. Đi cùng tôi có người anh bà con, Điện, theo tôi tìm đường đi. Những ngày này Điện bám sát tôi. Khi đến cổng vào căn cứ chuyển vận Hải Quân thì những người lính Lôi Hổ, mặt mày hung tợn, tóc dài quá bờ vai, đầu đội nón tai bèo, ôm súng lên đạn két két chỉa vào tôi và Điển quát:
-“Trở ra ngay, không tao bắn chết bây giờ.”
Nhìn những con mắt sát thủ hằng ngày sống ở rừng sâu, đối với những người lính Lôi Hổ này: chết là chuyện thường. Tôi liền cùng Điện quay đầu trở lại. Trên đuờng trở ra tôi thấy những chiếc xe Peugeot chở đầy người kéo nhau đi vào căn cứ chuyển vận. Nhưng tôi thì vác túi hành trang đi ra, lòng buồn dịu vợi!
Trở lại nhà tôi ngồi nhìn dòng xe nối đuôi chạy về Nhà Bè.
Chiều 29 tháng 4 tôi lên nhà Lim tìm Phương nhưng không thấy chị em Phương ở nhà. Tôi bước ra khỏi nhà Phương về nhà cùng Điện trở lại kho 18 xem người ta hôi của. Những ngày này lúc nào rời nhà trên vai tôi cũng mang túi hành trang với những cuốn sách. Khi đến kho 18 tôi nhìn xéo về cổng căn cứ chuyển vận, một điều làm tôi rất ngạc nhiên: Những người lính gác cổng đã bỏ trống cửa ngõ! Tôi nhìn chung quanh thấy anh Hát đang đứng nhìn đám người khiên đồ từ kho 18. Anh Hát là Thiếu Úy bộ binh QLVNCH từ Quảng Trị vừa về. Tôi kêu anh Hát và Điện lần mò tới cổng vào sân tàu và không thấy một ai ngăn cản. Ba đứa tôi đi thẳng luôn, và trước mặt là ba chiếc tàu Hải Quân đổ bộ chứa đầy dân và những người lính Lôi Hổ. Cảnh người nhôn nháo trèo lên tàu, la ó ồn ào như bầy ong vỡ tổ. Bên lề đường những chiếc xe Peugeot không người, cửa mở tung, xe Lambretta, Vespa, và Honda 67 đỏ chói nằm la liệt đầy đường. Thì ra đây là những chiếc xe mà mấy ngày nay chạy tấp nập trên Tỉnh Lộ 15. Mọi người vứt bỏ xe cộ bên đường leo lên tàu. Tôi mạnh dạng bước đến và leo lên tàu rồi anh Hát và Điện cũng bước lên tàu. Thì ra lúc này những người lính gác cổng đã rút lui lên tàu để cùng đi với gia đình. Trên tàu đông nghẹt lính Lôi Hổ và gia đình, tôi hoàng toàn xa lạ, nhưng lòng thầm vui.
Nhìn lên bờ, xa xa tôi thấy bóng dáng của đứa em gái trên bãi cỏ, tôi liền gọi thật lớn: “Đào.” Đứa em tôi chạy lại. Rồi một lát anh Hai tôi cũng chạy lại bên chiếc tàu há miệng. Cả hai chỉ đứng trên bờ nhìn ba người tôi trên tàu.
Trong túi hành trang tôi không có gì để uống và lúc đó tôi thấy khác nước, tôi liền bảo đứa em gái lấy cho tôi ca nước. Nó chạy đi và thật lẹ sau đó trao cho tôi một canh nylon đầy nước. Tôi muốn dẫn đứa em đi theo, nhưng nghĩ tới những nguy hiểm trước mặt và những tin tức từ đài phát thanh mấy hôm nay, tôi đành làm thinh. Đứa em trao cho tôi canh nước xong trở lại trên bờ với người anh cả.
Trời lúc đó khỏang 8 giờ tối. Tôi, anh Hát và Điện đang đứng cùng đoàn người lô nhố trên tàu. Ba chiếc tàu và cả ngàn người chen lấn trên đó, xì xầm như phiên chợ. Tự nhiên anh Hát nắm tay tôi và nói:
-“Ở nhà chỉ có tao và mầy là hai người biết chuyện và lo cho gia đình, bây giờ nếu cả hai cùng đi thì ai lo cho gia đình đây. Thôi mầy đi đi, tao trở lại.”
Vừa nói xong anh Hát nhảy xuống tàu trở lại trên bờ cùng Đào và anh Hai. Tôi không kịp nói lời nào, chỉ biết nhìn hai anh và đứa em. Tôi đang do dự về lời nói của anh Hát thì chiếc tàu đã bị chặt đức giây neo, từ từ de ra dòng sông. Tôi ôm túi hành trang nhìn hai ngươi anh, đứa em, và con tàu cứ lùi dần ra xa. Lúc đó là 8 giờ 20 phút tối 29 tháng 4. Chỉ trong vòng 25 phút sau khi tôi bước chân lên tàu, con tàu chặt neo! Tôi đưa tay lên vãy chào. Trong giây phút hình ảnh của ba người thân mờ dần trong bọt nước, rồi mất hẳn. Bóng tối trùm xuống, trong cái chớp mắt tôi nghĩ đến Phương, nhưng, xa rồi!
Con tàu quay đầu về hướng biển Đông. Và tôi, bắt đầu cuộc phiêu lưu.
Đồng Sa Băng
Dấu Chân Người Tị Nạn
Biển và tôi
Ba con tàu đổ bộ kéo miệng lên kín nghít vội vàng di chuyển ra giữa dòng sông Sài Gòn. Tối 29 tháng 4 bầu trời đen như mực, những người trên tàu lớn - bé - già - trẻ đều được lệnh ngồi im xuống sàn tàu. Con tàu được điều chỉnh với tiếng máy thật nhỏ, chỉ đủ sức để đẩy khối sắc và đoàn người đi trong im lặng.
Đoàn tàu chứa đầy gia đình binh lính Lôi Hổ, lính thiện chiến của QLVNCH. Những người lính này thường được di chuyển vào ban đêm để đột nhập vào phòng tuyến của địch. Hay những đêm tối trời họ nhảy dù xuống mật khu trà trộn trong vùng địch với những phi vụ tình báo. Hoặc những cuộc trinh sát một còn một mất. Nhiều khi họ chỉ được trở về thành phố sau nhiều tháng sống trong rừng sâu, vì vậy mà lối ăn mặc, tóc tai và bản tính của họ có phần không giống với những binh chủng khác.
Nhưng đêm nay những người lính Lôi Hổ này như cọp trong chuồng. Trước mặt họ không có quân thù, không có rừng sâu, không có những tiếng kêu rùng rợn của loài cầm thú, hay tiếng cóc nhái rỉ rã giữa đêm trường nằm ngóng quân thù. Mà chỉ có một màng đêm đen tối.
Khi con tàu qua địa phận Rừng Sát những tiếng súng nhỏ nổi lên lẻ tẻ từ hai bên bờ sông nhưng không đáng kể, con tàu vẫn âm thầm trôi đi trong bóng tối. Ngồi khép mình bên mạn thuyền tôi nhìn về vùng trời Sài Gòn, nơi đó có Mẹ, có anh em, và Phương. Có lẽ giờ này Phương đã ngủ yên giấc! Nhìn chung quanh, khối người chật như nem nhưng tuyệt nhiên im phăng phắc. Tiếng sóng lăn tăn vẫn vỗ vào mạn thuyền nghe róc rách, và con tàu di chuyển thật chậm. Nhìn về bầu trời Thủ Thiêm, những ngọn lửa đỏ làm sáng cả góc trời và chen lẫn những tiếng nổ ì ạch. Một đêm tôi thức trắng, và có lẽ nhiều người khác cũng thức trắng đêm.
Sáng 30 tháng 4, 1975 ba con tàu đã có mặt ngoài khơi Vũng Tàu. Chúng di chuyển sát nhau và quần thảo trên vùng biển nhỏ, dường như họ đang chờ đợi ai. Gió biển lạnh, thổi rì rào làm buốt da thịt. Màu nước biển đen và ánh sáng mập mờ đã thu đại dương bao la thành một không gian nhỏ bé bao quanh con tàu. Và trong không gian nhỏ này, con tàu cứ lảng vảng như vẫn còn luyến tiếc điều gì nơi bến nó ra đi.
Khi mặt trời bắt đầu ló dạng trên biển Đông, xa xa những tia sáng yếu ớt màu hồng đập vào mặt nước làm lóe lên những gợn sóng bạc đầu thì, nhấp nhô từ xa những con thuyền, to có, nhỏ có bắt đầu lù lù hiện ra. Một chiếc, hai chiếc, rồi ba chiếc, những chiếc ghe đánh cá bằng gỗ đông nghẹt người cứ nhô lên rồi lại chìm xuống. Trời đã sáng, đoàn tàu càng lúc càng nhiều hơn. Mọi người trên tàu đổ bộ đã tỉnh. Từ phía chân trời hiện lên chiếc tàu hải quân Mỹ màu xám tro nằm lù lù trên mặt biển. Thế là những chiếc tàu vượt biên đều quay đầu về chiếc tàu hải quân Mỹ mà chạy.
Bên cạnh tàu hải quân Mỹ, khoảng vài ba trăm thước, là chiếc xà lang chở đầy người lố nhố. Chiếc xà lang này đi từ Đà Nẳng vào từ mấy ngày nay. Tàu hải quân Mỹ, chiếc USS Thomaston LSD-28 thuộc đệ thất hạm đội Thái Bình Dương, có bải đậu trực thăng. Bên cạnh chiếc LSD là một chiếc soái hạm (thuộc loại FFG) chạy theo sau hộ tống.
Khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4, từ xa chiếc tàu đánh cá chở đầy người đang bập bềnh nhấp nhô theo nhịp sóng như muốn chìm trong biển sâu, cố gắng lại gần tàu đổ bộ. Khi đến gần, những người trên tàu đánh cá chờm mình lên mũi tàu van xin được cứu vớt. Nhìn họ như những con chim ướt sũng, run rẫy trong cơn gió lớn muốn tìm một tàn cây để núp. Con tàu nhỏ bé vẫn bập bếnh trên ngọn sóng và những khuôn mặt hãi hùng giương tròn đôi mắt nhìn về chiếc tàu đổ bộ khẩn cầu. Nhưng, một khẩu lệnh từ đâu trên chiếc tàu đổ bộ đưa xuống: “Bắn!”
Liền sau tiếng “Bắn” người lính Lôi Hổ kéo cò cây súng M16 rắc một tiếng. Hàng loạt những viên đạn bay vèo vèo về chiếc tàu đánh cá, găm chụt chụt xuống nước, ria thành hình chữ V bao quanh mũi tàu. Chiếc tàu đánh cá mong manh khựng lại, và những người trong tàu chấp tay lạy như rái. Những gương mặt hốc hác run rẩy lại càng thêm run rẩy, và con tàu nhỏ bé lặng lẽ lùi dần ra xa.
Tôi đứng đó, tay siết chặt thành tàu nhìn đám người chấp tay lạy trước làn đạn mà lòng tê cứng. Không biết họ kinh hoàng hay chính lòng tôi thấy sợ.
Ngoài khơi Vũng Tàu lúc này tàu vượt biên càng đông hơn, quần thảo lại một vùng như buổi chợ nổi. Tiếng kêu cứu, van xin, la hét như loạn. Mọi người đều nhắm vào chiếc tàu hải quân Mỹ và chiếc xà lang khổng lồ.
Nhưng tiếng súng chát chúa vừa rồi xua đuổi con tàu đánh cá đã giấy lên một không khí rối loạn trên mặt biển. Đáp lại những tiếng súng từ chiếc tàu đổ bộ là, chiếc soái hạm chạy bắn nước, đánh một vòng bên cạnh chiếc LSD như con ngựa trở chứng! Và kế tiếp là lệnh từ đâu đưa ra bảo mọi người phải vứt tất cả súng ống xuống nước mới được lên tàu lớn. Những khẩu Carbin xếp, M16, và những cây súng lục ngắn gọn rất đẹp lần lượt được ném xuống biển sâu! Từ đây trên tàu đổ bộ trở thành một nơi vô trật tự, không ai nghe ai. Nơi đây nếu còn luật lệ thì chỉ còn luật mạnh còn yếu chết.
Trong đám tàu kia có hai chiếc tàu buôn: Long Hồ và Long Châu, hai chiếc tàu cùng một chủ đang đi bên cạnh nhau. Tôi biết anh Hoàng là sĩ quan cơ khí của tàu Long Hồ, mấy tuần nay tình hình rối loạn ở Sài Gòn tôi không liên lạc được. Bây giờ Long Hồ xuất hiện ở đây, tôi nghĩ thế nào cũng có người quen trên đó. Trước những cảnh đáng sợ, tiếng súng đạn và con người cấu xé lẫn nhau để được bốc lên tàu lớn, đã làm chùn ý tưởng “ra đi ôm mộng trùng dương” của tôi. Tôi quay mắt theo dõi chiếc Long Hồ. Bất chợt chiếc tàu đổ bộ tôi đi quay đầu về chiếc Long Châu. Khi hai chiếc tàu sắp chạm nhau tôi mới biết là trên Long Châu có một vị quân nhân Lôi Hổ cấp Tá có gia đình đang đi bên tàu đổ bộ, và vị sĩ quan cấp Tá này muốn nhảy qua tàu đổ bộ cùng gia đình. Trong khi hai chiếc tàu đang điều động gần nhau tôi thấy anh em anh Hoàng có mắt trên Long Châu, tôi vội mừng như kẻ sắp chết đuối vớ được phao, tôi la lớn:
-“Anh Hoàng tui qua bên tàu anh được không?”
Anh Hoàng liền đáp:
-“Tàu tao trở lại Sài Gòn.”
Nghe mấy tiếng “trở lại Sài Gòn” tôi mừng quá. Tôi liền nói:
-“Anh đợi tui qua với, tui cũng muốn trở lại Sài Gòn.”
Anh Hoàng liền nói:
-“Ừ, qua đi.”
Tôi quay qua Điện:
-“Anh ở lại đi nhe, tui trở lại Sài Gòn.”
Điện nghe tôi nói thế liền đáp:
-“Mầy về thì tao cũng về chứ đi một mình chi.”
Tôi chen chân bước về hướng mũi tàu, nơi hai chiếc tàu sẽ chạm nhau cho vị sĩ quan cấp Tá bước qua. Tôi liền nói với mấy anh Lôi Hổ đang ôm súng đứng trước mũi tàu:
-“Anh cho tôi qua chiếc tàu kia nhe.”
-“Không được. Không được lộn xộn, trở lại không tao bắn chết bây giờ.”
Anh lính Lôi Hổ nhìn tôi sừng sộ, nạt.
Nhìn nét mặt anh tôi hoảng sợ, liền ôm túi sách lùi lại phía sau tàu. Hai chiếc tàu chỉ còn một chút nữa là chạm nhau, tôi thấy viên sĩ quan cấp Tá đang đứng trên mũi Long Châu, chờ bước qua. Tôi ao ước được làm như ông ta, nhưng không được! Hai con tàu chỉ cập sát nhau để chuyển một người rồi sẽ gian ra xa. Tôi quẩn trí, không biết phải làm sao để qua bên kia, để được về với gia đình, với Phương, và với sự bình an mà hằng ngày tôi vẫn có, và nhất là để khỏi thấy cảnh con người đối xử tàn nhẩn với con người. Chỉ một bước thôi, một bước là tôi sẽ xa rời những ưu phiền sợ sệt, những hãi hùng mà sáng nay tôi đã chứng kiến. Nhưng bước chân đó tôi không thực hiện được! Khi hai con tàu xích gần lại nhau thì người trên tàu đổ bộ xôn xao, ồn ào như náo loạn. Người lính Lôi Hổ phải bắn chỉ thiên mấy phát và ra lệnh mọi người đứng im tại chỗ. Tôi nhìn anh Hoàng, chỉ tay xuống biển ra ni và nói:
-“Anh thả phao xuống kéo tui lên được không?
Anh Hoàng nhìn xuống mặt nước, ngước mặt nhìn tôi nói:
-“Được. Nhưng mầy dám nhảy xuống không?”
Lúc này hai chiếc tàu đâu lại thành hình chữ V, vị sĩ quan cấp Tá sắp bước chân qua, và Điện đang đứng sát bên tôi. Tôi không còn thì giờ để do dự, chỉ có giây phút này thôi rồi hai con tàu sẽ xa nhau, và cơ hội trở lại Sài Gòn sẽ không đến với tôi lần thứ hai trên biển này. Tôi liền tròng túi hành trang qua cổ, xong, nhảy xuống biển!
Liền theo đó Điện cũng nhảy xuống biển theo tôi.
Hai chiếc phao từ Long Châu liệng xuống nhưng cả tôi lẫn Điện đều chụp hụt, lập tức hai chiếc phao bị dòng nước tống ra phía sau. Con nước giữa hai chiếc tàu như một dòng sông chảy xiết, chỉ trong vòng vài ba phút phấn đấu tôi đã mệt lã, và con nước xoi tôi và Điện về phía đuôi tàu. Tôi ngóc đầu lên nhìn những người trên tàu Long Châu, con sóng lại đánh tôi lao chao, tôi quậy tay chân giữ thăng bằng, và hai cái phao thứ hai liệng xuống. Tay tôi quờ quạng trong con sóng và chụp được chiếc phao, khi tôi chỉ còn cách chân vịt khổng lồ của Long Châu không bao xa. Tôi vội vàng chui đầu vô phao cấp cứu, lấy sợi dây còn lại quấn lia lịa trên mình, trên phao, rồi nằm như con cá chết! Mấy người trên Long Châu kéo tôi lên khỏi mặt nước, bỏ trên boong tàu. Tôi mệt lã người, chỉ hỏi:
-“Điện đâu?”
-“Nó chụp hụt phao, nước đẩy ra sau và được tàu đánh cá vớt rồi.”
Tiếng nói của ai đó trên tàu Long Châu cho tôi biết.
Tôi nằm sãi sòng trên boong tàu, người lã đi. Hơn nữa tiếng đồng hồ sau tôi bình phục và đi lại trên tàu Long Châu. Chiếc tàu đổ bộ hải quân đã tách xa Long Châu và đang nhập với những chiếc tàu khác bên cạnh xà lang và tàu hải quân Mỹ. Tôi dõi mắt nhìn theo những chiếc tàu chung quanh nhưng không thấy bóng dáng Điện. Từ đó tôi mất liên lạc Đện.
Nhìn lại trên tàu Long Châu chỉ có trên dưới 20 người kể cả gia đình thuyền trưởng và anh em anh Hoàng. Những người trong nhóm anh Hoàng tôi đều biết.
Đã gần trưa ngày 30 tháng 4, Long Châu chở đầy xăng dầu và Long Hồ chở gạo nằm ì tại chỗ. Máy vẫn nổ nhưng tàu chỉ lần quần ngoài khơi Vũng Tàu, chưa chịu đi. Tôi hỏi chừng nào quay đầu trở lại Sài Gòn thì chỉ nghe anh Hoàng nói đợi một lát nữa. Nữa tiếng đồng hồ rồi một tiếng, hai tiếng đồng hồ trôi qua tàu vẫn chưa nhúc nhích. Tôi đi lòng vòng trên tàu, vào những phòng ngũ của thủy thủ xem xét. Lật nệm giường ngủ lên tôi thấy súng M16, đạn dược và lựu đạn nằm la liệt dưới giường. Thì ra chiếc Long Châu từ Đà Nẵng vào chở hơn một tiểu đội Lôi Hổ. Khi đến Vũng Tàu những người lính Lôi Hổ trở vào bờ bỏ lại súng đạn nơi đây, và trong số người từ Đà Nẵng vào có vị sĩ quan cấp tá Lôi Hổ, một đại Tá Cảnh sát và một tài lọt. Tôi nôn nóng đợi không biết chừng nào tàu sẽ trở lại Sài Gòn. Nơi đây không khí càng lúc càng sôi nổi. Những chiếc ghe đánh cá thi nhau chạy về tàu lớn.
Khoảng 10:30 trưa 30 tháng 4, trên radio lời tuyên bố đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh được loan đi. Chấm dứt! Chính thể Việt Nam Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam chấm dứt vào lúc trưa 30 tháng 4, 1975!
Ngoài khơi biển Vũng Tàu dậy sóng. Những chiếc tàu con chạy loạn xạ tìm tàu cứu vớt. Chiếc LSD hải quân Mỹ thả lưới xuống kéo người từ xà lang và những chiếc ghe con. Từ xa tôi nhìn về chiếc LSD, hàng hàng lớp lớp những bàn tay con người nhôn nháo bám vào mảnh lưới để được kéo lên như kéo những kiện hàng. Người đạp lên người, những bàn tay bám víu vào mảnh lưới không chịu nỗi sức nặng của chính mình, và rớt lủm bủm xuống nước giữa hai con tàu. Xa quá, tôi không biết những người rơi rớt xuống biển có được cứu vớt lên không? Hay chỉ là miếng mồi cho cá! Hay có lẽ đã bị nghiền nát bởi hai thành tàu!
Từ thành phố Sài Gòn những chiếc trực thăng ào ạt mang người di chuyển ra chiếc LSD và Đệ Thất Hạm Đội Thái Bình Dương. Khi những nhân viên cuối cùng đáp xuống chiếc LSD an toàn thì những chiếc trực thăng cũng lần lượt bị xô xuống biển, lấy chỗ cho chiếc khác đáp xuống.
Trời về chiều, gió thổi mạnh và bọt nước chung quanh chiếc LSD như lớp sương mù. Và hết lưới này đến lưới khác, bóng người vẫn đu đeo, và bóng người vẫn rơi rớt giữa hai con tàu. Ba con tàu đổ bộ từ căn cứ chuyển vận kho 18, Tân Thuận Đông quay đầu lên đường đi Subic Bay, Phi Luật Tân. Những tàu sắt có khả nămg đi một mình thì ra đi. Long Châu và Long Hồ cũng bắt đầu lên máy. Tôi quay qua hỏi anh Hoàng:
-“Sao anh đi hướng này?”
-“Thì tao nói với mầy tàu tao trở lại Sài Gòn để khỏi bị nhiều người bu lên, đơn giảng vậy thôi.”
Tôi ngỡ ngàng nhìn anh Hoàng!
Long Châu hú lên một hồi còi, tôi nhìn lại chiếc xà lang và đám ghe nhỏ mong manh. Chắc Điện đang loi nhoi đu đeo theo lưới trong đám người đó! Rồi tôi tự hỏi: “Long Châu sẽ đi về đâu?” Long Châu, những ngày rong ruổi!
Đồng Sa Băng
Dấu Chân Người Tị Nạn
Long Châu, Những Ngày Rong Ruổi
Long Hồ và Long Châu là hai hiếc tàu tư nhân. Long Hồ chuyên chở gạo và Long Châu là tàu dầu thường di chuyển trên vùng duyên hải Việt Nam, từ Nam ra Trung và ngược lại. Đôi khi hai chiếc tàu này cũng chuyên chở hàng hóa trên trục Sài Gòn - Nam Vang.
Vào đầu tháng Tư Long Châu chứa đầy xăng dầu đang nằm ở Đà Nẵng, trong những ngày tình hình sôi nổi của cuộc chiến Long Châu quay đầu trở lại Vũng Tàu khoảng giữa tháng Tư. Trên đường vào Vũng Tàu Long Châu chở hơn một tiểu đội lính Lôi Hổ, một Đại Tá Cảnh Sát và người “tài lọt”. Đến Vũng Tàu hầu hết lính Lôi Hổ và cơ khí chạy máy xuống tàu Long Châu trở lại với gia đình.
Trưa 29 tháng 4 Long Hồ từ cảng Sài Gòn, kho 5, ra đi và hội ngộ cùng Long Châu sáng 30 tháng 4 ngoài khơi Vũng Tàu. Lúc đó Long Châu có người lái tàu là quan tàu Kh, nhưng không có người chạy máy (vì người thợ máy từ Đà Nẵng vào đã xuống tàu trở lại với gia đình).
Vì muốn đưa tài sản và số xăng dầu ra nước ngoài, chủ nhân của Long Hồ và Long Châu, sáng 30 tháng 4 đã liên lạc thỏa thuận, đồng ý trả một số vàng và đô la để mướn ba người thợ máy theo Long Hồ ra Vũng Tàu qua chạy máy cho Long Châu. Ba thợ máy đó có hai anh em anh Hoàng (Hoàng và N) và một người bạn (Si), họ đều tốt nghiệp trường Việt Nam Hàng Hải, từng đi tàu hoặc có kinh nghiệm điều hành máy tàu.
Trên Long Châu có gia đình quan tàu Kh (cha, mẹ, vợ, một người con và cô em vợ), cùng với anh chị em và thân nhân của anh Hoàng (anh K, chị Th vợ anh K, bé Kt con của anh K, T, N, S, Th, H, C và tôi.) Những người này đã có mặt trên Long Châu hoặc từ Long Hồ chuyển qua từ sáng 30 tháng 4, ngoại trừ tôi. C sau khi đến Guam vì nhớ gia đình người thân nên đã cùng với 1545 người khác ngày 16 tháng 10, 1975 tự nguyện lên tàu Việt Nam Thương Tín trở về Sài Gòn. Nhưng khi Việt Nam Thương Tín đến Vũng Tàu thì những người này bị bắt và đưa thẳng vào nhà lao.
Chiếc radio nhỏ trên Long Châu lúc nào cũng oang oang loan tin từ đài phát thanh Sài Gòn. Khoảng 10:30 trưa 30 tháng 4, 1975 sau lệnh buông súng vô điều kiện của Tổng Thống Dương Văn Minh được loan đi từ đài phát thanh Sài Gòn thì những con tàu và đoàn người ngoài khơi Vũng tàu không còn lý do gì để lảng vảng đây nữa. Tất cả quay đầu ra đi. Từ đây đoàn người sẽ ra đi tìm Tự Do mọi nơi. Hầu hết gia đình binh lính Lôi Hổ và những người trên tàu đánh cá được Đệ Thất Hạm Đội Th Bình Dương vớt và đưa về Subic Bay, đảo Guam hoặc Wake.
Long Hồ và Long Châu cũng rời Vũng Tàu lên đường.
Gió biển thổi tung bay ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ bay hiên ngang trong gió mặc cho lời tuyên bố đầu hàng của vị nguyên thủ quốc gia đã loan đi. Biển cả bao la và mênh mông, con thuyền cứ bềnh bồng rời xa bờ bến cũ. Tôi hỏi thì được anh Hoàng cho biết thuyền đang chạy về hướng Nam, và chưa biết sẽ đi về đâu. Tôi lảng vảng trên tàu rồi xuống hầm máy nghe tiếng máy nổ nhức tai lại chạy lên boong tàu. Thời gian trôi qua thật chậm. Không gì làm tôi thấy mình như dư thừa, tôi hỏi anh Hoàng:
-“Sao tàu trống rỗng như vầy mà không cho người ta lên đi?”
-“Không được. Không thể để nhiều người lên tàu được vì bà chủ tàu muốn mang tàu đi Panama. Người tỵ nạn đâu muốn đi Panama, có họ khó xử lắm.”
-“Nói vậy tui cũng đâu muốn đi Panama, sao kỳ vậy?”
-“Tụi mình thì khác. Đến đó rồi hãy tính.”
Biết không thể thay đổi được gì tôi làm thinh và chỉ nhìn xa xa trên biển cả, nhớ về gia đình anh em. Có lẽ mỗi con người đều có định mệnh, tôi nghĩ người đáng ra đi có lẽ là anh Hát chứ không phải tôi! Và có lẽ định mệnh đã xếp đặt cho Phương không có mặt ở nhà buổi chiêu hôm ấy, để tôi phải xa Phương! Từ đây những tâm tư về gia đình và người thân rồi cũng trở thành một thứ ký ức, và những bước đi vẫn phải tiếp tục mang theo những ký ức đó.
Con tàu cứ ra đi và bóng đêm thì cứ lại gần. Chúng tôi, những đứa bạn cùng trang lứa, cùng khóa học, cùng đứng trên ngưỡng cửa học đường và cùng mơ ước cho một tương lai - S, H, Th, N, và tôi. Đêm nay cùng ngồi trên boong tàu, nhìn lên bầu trời đầy sao mà suy ngẫm: không biết vì sao nào của mình, của tuổi trẻ Việt Nam! Tiếng máy tàu vẫn nổ xình xịch đều đặng, và Long Châu Long Hồ vẫn nối đuôi đi trong đêm trường.
Sáng ngày hôm sau, mọi nguời thức giấc con tàu vẫn xình xịch chạy về phương Nam. Nhìn quanh ba bên bốn phía chỉ thấy toàn là biển mênh mông. Tàu chạy khoảng chừng 10 hải lý một giờ, chúng tôi, những người rảnh rỗi nhất trên thế gian lúc này, lấy lưởi câu móc mồi thả đại xuống biển mua vui may đâu bắt được cá. Không ngờ bất thình lình dây câu căng thẳng và từ xa phía sau con tàu một con cá nhảy tung lên mặt nước. Ngay lập tức chúng tôi báo phòng máy cho tàu chạy chậm lại, rồi từ từ kéo giây câu về. Một con cá rất lớn dính câu, đang vùng vẫy trong nước. Chúng tôi vui mừng reo hò cùng nhau kéo cá về, con cá vùng vẫy chạy loạn xạ trong dòng nước, cố phấn đấu để được tự do, nhưng rồi cuối cùng cũng bị mang lên boong tàu. Đó là con cá Dũa, miệng dài và nhọn nặng cở 25 ký! Ngày hôm đó mọi người trên tàu có một bửa cá ăn no say.
Con tàu vẫn tiếp tục đi.
Đến ngày thứ ba, bà chủ tàu bên Long Hồ liên lạc qua bảo Long Châu và Long Hồ đều phỉa ghé Singapore.
Ông Si, người thợ máy và là bạn của anh Hoàng, phản đối lời nói của bà chủ tàu, nói:
“Tại sao phải ghé Singapore mà không đi thẳng xuống Úc Đại Lợi luôn? Không phải bà chủ tàu đã thỏa thuận như vậy khi còn ngoài khơi Vũng Tàu sao.”
Ông Kh, thuyền trưởng nói:
“Phải ghé Singapore để lấy thêm nhiên liệu và thực phẩm.”
“Gạo chứa đầy tàu rồi. Bộ xăg không đủ xuống đến Úc sao?”
“Không. Xăng không đủ đi xa như vậy được.” Ông Kh trả lời ông Si.
Vậy là cả Long Hồ và Long Châu phải ghé hải cảng Singapore.
Khi Long Hồ và Long Châu cập bến, chính quyền Singapore ra lịnh mọi người phải rời khỏi tàu. Nhóm anh Hoàng và ông Si thấy có điều gì không ổn và chống đối không chịu rời khỏi tàu. Theo lời của ông Si thì bà chủ tàu đồng ý trả một số tiền và vàng cho ông Si và nhóm anh Hoàng để đưa tàu đến Úc hay Panama. Nhưng khi đến Singapore thì được biết chồng của bà chủ tàu đã có mặt tại Singapore, hai vợ chồng chủ tàu đồng tình với chính quyền Singapore buộc mọi người phải xuống tàu, điều này đã làm bất mãn ông Si và ông này cự tuyệt, không chịu rời tàu, chỉ đòi tiếp tế nhiên liệu xong sẽ lên đường. Sau một thời gian dàng xếp, điều đình, nhân viên hải cảng Singapore bảo nhóm anh Hoàng và ông Si sau khi xuống tàu, khám sức khỏe, chích thuốc và lấy thêm lương thực xong sẽ cho trở lại tàu tiếp tục đi. Trước lời đề nghị của hải cảng Singapore mọi người rời tàu lên bờ ngoại trừ ông Si và hai anh em anh Hoàng. Các anh ấy bảo với chúng tôi trước khi bước xuống tàu, rằng:
“Tụi bây cứ xuống đi, ba đứa tao sẽ ở lại đây coi tàu. Tao nghĩ chắc họ lật lọng muốn nuốt tiền công của tụi tao nên bày đặc cái vụ khám bịnh chích thuốc này chứ mình có bịnh hoạn gì mà phải khám phải chích. Có biết bao chủ tàu khác ở cảng Sài Gòn mướn mình lái tàu họ đi mà mình đồng ý lái tàu bà này thì bả phải trả tiền công theo hợp đồng sáng 30 tháng 4 chứ.”
Nói xong chúng tôi, những người trẻ và đàn bà con nít, không liên cang gì đến hợp đồng giữa chủ tàu và những người thợ máy, đều xuống tàu khám bịnh chích thuốc.
Sau khi mọi người đều xuống chỉ còn lại ba người chống đối không chịu rời tàu và ôm súng cố thủ con tàu. Lập tức nhân viên hải cảng Singapore điều động một tiểu đội lính Singapore đến cô lập chiếc Long Châu. Trước sự áp bức của nhân viên hải cảng và sự lật lọng của chủ tàu ông Si chống đối đến cùng và đã tỏ thái độ bằng cách mang trái lựu đạn của lính Lôi Hổ để lại trên tàu, ném xuống biển nổ vang rền làm nước tung tóe. Tiếng nổ của quả lựu đạn trên cảng Singapore bên cạnh chiếc Long Châu chứa đầy xăng dầu đã làm đám lính và nhà chức trách trên hải cảng Singapore trở nên căng thẳng. Toán binh lính chạy loạn xa, la hét như chưa từng đánh giặc. Những người lính Singapore ôm súng lên đạn két két, người này quì sau lưng người kia trên sân tàu. Tôi thấy những người lính Singapore run sợ đến nổi thay vì chỉa súng lên Long Châu họ lại chỉa ngay vào đầu người chiến binh phía trước họ. Sau giây phút đó Long Châu chỉ còn ba người và một số lựu đạn, súng ống. Những tiếng loa kêu gọi ba người nên bỏ cuộc, nhưng vô hiệu nghiệm. Câu chuyện rất bình thường lại trở nên gay cấn và trở thành sự đối đầu giữa cảnh sát Singapore và Long Châu, cũng chỉ vì lòng người thay đổi! Nhưng toán lính án binh bất đông trên hải cảng, một hồi sau nhân viên hải cảng trao vị Đại Tá Cảnh Sát lúc trước xuống tàu khám bịnh chích thuốc trở lại tàu Long Châu.
Phần chúng tôi, những người vừa bước xuống tàu để khám bịnh chíct thuốc thì bị giữ lại không cho trở lại tàu và cũng không khám bịnh chích thuốc gì cả.
Một tiếng rồi hai tiếng đồng hồ trôi qua không một tiếng động phát ra từ Long Châu. Những người lính Singapore vẫn án binh trên sân tàu. Bất chợt sân tàu giấy động, viên Đại Tá Cảnh Sát bước ra và nói đã bắt trói ba người kia rồi! Sau này chúng tôi biết là viên Đại Tá này đã thông đồng và lấy tiền bà chủ tàu trở lại tàu ve vảng, chờ lúc ba người kia mệt mỏi ngủ, và không để ý thừa cơ bắt họ giao lại cho cảnh sát Singapore.
Vậy là xong, nhóm ba người anh Hoàng bị bó tay. Và những người còn lại trong nhóm anh Hoàng chín người, trong đó có tôi, đều bị cô lập trong một khuông viên rộng lớn.
Một tuần sau chính quyền Singapore gom góp những người vượt biên tỵ nạm và những chiếc tàu có khả năng vượt trùng dương mang ra cho đi. Chúng tôi biết tin về nhóm ba người anh Hoàng rất giới hạn, chỉ biết các anh vẫn còn cô lập trên Long Châu.
Hôm đó khoảng ngày 10 tháng 5 năm 1975 chín người chúng tôi được mang ra chia năm xẻ bảy thành nhiều nhóm nhỏ và từng cá nhân riêng biệt, đưa lên những chiếc tàu được trang bị lương thực để tiếp tục cuộc hành trình tìm tự do. Khi ra sân tàu thì S, N, vợ chồng anh K và đứa con nhỏ được đưa lên Long Hồ. Còn lại bốn đứa chúng tôi: Th, H, C và tôi thì bị xé lẽ và đưa lên ba con tàu đánh cá nhỏ. Ba con tàu đánh cá đó là Việt Thủy 1, 2, 3. Có nghĩa là những người cùng rời Vũng Tàu trên chiếc Long Châu giờ này đều bị tan hàng, mỗi người một nẻo.
Trưa ngày 10 tháng 5 sân tàu hải cảng Singapore nhộn nhịp với hàng ngàn người tỵ nạn nhôn nháo trên ba con tàu đậu san sát nhau. Long Hồ và Long Châu cũng được đưa lên đầy người và đậu cách biệt với ba chiếc tàu đánh cá Việt Thủy.
Tôi không ngờ chuyến nhảy xuống biển để trở lại Sài Gòn của tôi cuối cùng lại đặt chân trên chiếc Việt Thủy mong manh này. Nhìn hàng trăm người chen lấn nhau trên chiếc tàu đánh cá nhỏ bé, tôi lại nhớ thân phận những người ướt tả tơi run sợ chấp tay lạy những làn đạn ngoài khơi Vũng Tàu cách đây hơn một tuần! Tôi nghĩ chắc tôi số con rệp, tàu lớn không đị lại đi nhảy xuống biển để rồi cuối cùng lại lên chiếc tàu nhỏ mong manh này. Trong một thoáng suy nghĩ đến bạn bè, và nhìn thấy cảnh náo loạn không trật tự nơi sân tàu, tôi liền nhảy xuống tàu Việt Thủy 3 đi tìm Th H và C trên hai chiếc Việt Thủy khác. Khi gặp Th H C tôi nói là ba con tàu đậu sát bên nhau, hãy lẩn quẩn đâu đây đợi khi nào sắp đến giờ lên đường thì tất cả đều chuyển qua chiếc Việt Thủy 3 để cùng đi cho đở buồn. Quang cảnh nơi đây như một buổi chợ, tuy mọi người được chỉ định đi trên con tàu nào nhưng rồi không ai kiểm soát ai, nên khi đoàn người đông như kiến thì sự di chuyển lại càng thêm dễ dàng. Và cuối cùng trước khi tàu rời bến bốn đứa chúng tôi cùng có mặt trên chiếc Việt Thủy 3.
Mấy ngày đầu tháng 5 năm 1975 làn sóng người rời bỏ quê hương ra đi rất đông. Họ ra đi bằng mọi phương tiện, tàu lớn, tàu nhỏ, ngay cả những chiếc ghe chỉ dùng để di chuyển trên sông cũng được tận dụng để vượt biên. Điểm đến của làn sóng người Việt vượt biên là mọi nơi, mọi quốc gia ngoài Việt Nam và Trung Hoa. Và Singapore là một đảo quốc nằm phía nam Việt Nam đã đón nhận nhiều người đến. Nhưng Singapore không có chương trình định cư nên những người đến đây lần lượt phải tiếp tục lên đường. Vì vậy mà ba con tàu đánh cá Việt Thủy sau khi đến Singapore lại được trang bị lương thực, nước uống đầy đủ bởi Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc rồi đẩy ra khơi với một tấm bản đồ thế giới, và trên mỗi chiếc Việt Thủy là hàng ngàn người lớn - bé - già - trẻ - trai - gái chen chúc nhau trên chiếc tàu không dài quá 15 thước và rộng cở ba, bốn thước, làm bằng gỗ.
Mặt trời vừa ngã bóng, cái nắng ban trưa vẫn còn gay gắt, nhưng có lẽ không ai để ý đến vì đoàn tàu sắp nhổ neo. Long Hồ, Long Châu và những chiếc tàu sắt đã ra đi. Còn lại trên hải cảng là ba chiếc Việt Thủy. Giây phút kiểm sóat cuối cùng đã hoàn tất, mọi người đã nhận diện gia đình thân nhân, ba vị “thuyền trưởng” của ba con tàu đã hứa hẹn nhau cùng nối đuôi. Sân tàu lặng lẻ, không người tiển đưa, không người bịn rịn, và đặt biệt không có hồi còi tàu thứ ba, vì đã không có hồi còi tàu thứ nhất!
Ba con tàu lặng lẻ rời bến.
Tôi nhìn lại sân tàu, một khoảng không gian trơ trụi. Và trước mặt, một trùng dương bao la. Thằng bạn ngồi bên cạnh rít lên một điếu thuốc đỏ rực, chuyền tay cho thằng khác, và nói: “Từ đây đến Subic Bay chắc cũng phải mất một tuần.” Buổi chiều, gió biển rít từng cơn lạnh buốt, và con tàu không một mái hiên để trú.
Đồng Sa Băng. 2 tháng 6, 2009.
Đồng Sa Băng
Dấu Chân Người Tị Nạn
Subic Bay, Vì Sao Lạc.
Tháng Năm biển Đông vẫn còn yên lặng, sóng không lớn quá cấp ba, nước biển màu xanh và bầu trời quang đãng. Ba chiếc tàu đánh cá Việt Thủy rời hải cảng Singapore ngày 10-5-1975 đi Subic Bay, Phi Luật Tân. Ba con tàu nối đuôi và chạy cách nhau trong tầm mắt.
Mỗi con tàu chứa khoảng ba, bốn trăm người với một số thức ăn, và nước uống. Thức ăn hầu hết là đồ hộp được cung cấp bởi phái đoàn Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Khối người trên tàu chen chúc nhau trong một không gian chật hẹp. Di chuyển trên tàu cả là một vấn đề phiền phức, nên, hầu hết người ta chỉ ngồi một chỗ suốt đoạn đường đi. Bốn đứa chúng tôi (Th, H, C và tôi) là những người độc thân, không gia đình, không thân thuộc và nhảy lung tung từ tàu này qua tàu kia để được đi chung, nên cuối cùng không được “tiếp tế” lương thực và nước uống trước khi tàu rời bến. Nhưng thân thanh niên, khỏe mạnh, một thân một mình nên những điều đó không làm chúng tôi phân vân.
Sự phân chia và chọn người lái tàu đã được sắp xếp từ hải cảng Singapore mấy ngày qua. Hôm lên đường chiếc Việt Thủy 3 được điều khiển bởi một tài công người Nhật Bản. Người “Thuyền trưởng” Nhật Bản này đã khai báo và cho biết rằng ông ta có mười lăm năm kinh nghiệm đi biển, và đặc biệt ông biết nhìn trăng sao trên bầu trời là có thể xác định được vị trí và hoạch định ra hải trình. Những lời tuyên bố tài năng của ông làm cho lòng người tỵ nạn thêm yên tâm, và không ngần ngại trao thân phận, sinh mạng gia đình cho tài nhìn trăng sao của ông!
Việt Thủy là tàu đánh cá loại nhỏ, dụng cụ hải hành không đầy đủ và tối tân gì mấy. Tàu được trang bị với sáu máy log thẳng, chạy bằng dầu diesel. Trên tàu không có thợ máy chuyên nghiệp, cho nên mọi lo toan về trợ giúp đều do vị “Thuyền trưởng” xem xét và kiểm soát trước giờ ra đi.
Thời tiết yêm xui, ba con thuyền nối đuôi nhau băng qua khúc biển giữa Mã Lai và Nam Dương trong bình an. Những người tỵ nạn xúm nhau từng nhóm theo gia đình, đùm bọc ngồi xúm xít trong khoang tàu. Thỉnh thoảng những tiếng la khóc của những đứa trẻ vì đói khác và nóng nực. Hai ngày sau con tàu đến vùng duyên hải Borneo. Vì tàu nhỏ, đông người nên Việt Thủy chạy rất chậm và dựa theo ven biển Borneo cho an toàn. Vùng biển này xanh biết và nhiều san hô trải dài đến biển Palawan. Ngày đó Việt Thủy đi ngang qua những hòn đảo nhỏ của Trường Sa, nhưng có lẽ không mấy người để ý hay biết đến.
Hai ngày một đêm trôi qua thật chậm. Bốn đứa chúng tôi quay quần bên thành tàu, chia xẽ nhau những làn khói thuốc, nhìn bọt nước, những gợn sóng bạc đầu và từng đàn cá chuồn bay lẹt xẹt trên mặt biển. Có những lúc đói bụng, ruột gan cào nghe ột oạt tôi lại lục những gói mì còn sót trong túi hành trang cho đở đói. Nhưng nước sôi lại không có nên chỉ biết nhai và nuốt đại những sợi mì. Trên tàu những gia đình lớn bé đều được cung cấp những lon đồ hộp và sữa đặc. Người trên tàu xuống bếp nấu cơm và đun nước sôi. Nhưng tuyệt nhiên chúng tôi không được chia xẽ đến một miếng ăn, ngay cả khi đói khác đến khờ người. Gia đình nào cũng thủ cho bản thân họ, tôi nghĩ đó cũng là chuyện thường khi con người nằm trong cảnh lâm nguy, nên cũng chẳng lấy làm buồn. Đoàn người trên tàu chật như nem, không có chỗ trống, tôi ngồi co chân trên nắp thùng phi bên cạnh mái che bằng vải. Có những hôm trời mưa, những giọt mưa đọng trên miếng vải che, chúng tôi đẩy chỗ thủng cho những giọt nước mưa trên miếng vải chảy vào lon nhựa để uống cho qua cơn khác.
Không gì làm tôi lảng vảng xuống hầm máy xem chơi. Và vào ngày thứ hai viên “Thuyền trưởng” cần người giúp chấm dầu. Đám bốn đứa chúng tôi liền tình nguyện làm “thợ chấm dầu”. Và từ đó tôi thường trực dưới hầm máy. Lần đầu tiên trong đời tôi đi làm thợ máy! Tôi nghĩ chắc cũng dễ thôi, chỉ cần cầm lon dầu chấm vào ổ máy là xong. Vậy mà bốn đứa chúng tôi trở thành người quan trọng. Và cái quan trọng lớn nhất đối với chúng tôi là từ ngày đi làm “thợ máy” chúng tôi được chia xẽ những miếng cơm, giọt nước từ những gia đình trên tàu mỗi khi đói khác.
Đến ngày thứ tư ba chiếc Việt Thủy vẫn còn trong tầm mắt trên vùng biển san hô giữa Trường Sa và Borneo.
Nhưng chiều hôm thứ tư con tàu Việt Thủy 3, con tàu chạy sau cùng bỗng nhiên chạy chậm lại.
Viên thuyền trưởng người Nhật xuống phòng máy xem, phát gíac hai trong sáu máy không còn chạy! Người thuyền trưởng nói: “Máy tàu bị lột dên.” Tôi nghĩ máy không bị lột dên mới là chuyện lạ! Vì khối người đông như kiến, con tàu đã quá tải và hai hôm nay người thuyền trưởng bảo tăng vận tốc máy, ép tàu chạy cho lẹ để kịp với hai chiếc kia. Mọi người trên tàu nhôn nháo sợ sệt, rù rì bàn tán khi biết máy tàu bị hư. Việt Thủy 1 và 2 càng lúc càng đi xa. Nhưng nếu có còn đâu đây cũng không kéo thêm Việt Thủy 3 nổi, vì mỗi con tàu đã kéo ngoài khả năng của nó!
Việt Thủy 3 tắt máy để sửa.
Con thuyền bắt đầu trôi. Ngoài những mảnh san hô màu xanh xanh trắng trắng thấp thoáng dưới đáy biển, và những ngọn sóng bạc đầu, người ta không nhìn thấy gì khác. Một khối người đông như nem trên tàu tự dưng bất động, chỉ còn nghe tiếng nguyện cầu và những ánh mắt buồn, lo lắng. Trời về chiều, không mưa, không gió nhưng trong lòng mọi người đã cảm thấy lạnh. Tôi rời phòng máy bước lên sàn tàu, đưa mắt nhìn vào khoảng chân không, giống như lòng tôi đang trống rỗng.
Vị thuyền trưởng lay hoai sửa chữa, một hồi sau tiếng máy tàu lại nổi lên. Mọi người châu mặt về người thuyền trưởng, viên thuyền trưởng nói: “Chỉ chạy được bốn máy thôi.” Ông dặn dò những người chấm dầu xong bước lên phòng lái. Những nỗi lo âu trên từng gương mặt lại từ từ chìm xuống. Việt Thủy 3 chạy rất chậm và đã ngoài tầm mắt của Việt Thủy 1,2.
Từ đây Việt Thủy 3 một mình trên biển Đông.
Đêm về muôn ngàn vì sao lấp lánh trên không, con tau vẫn ì ạch mang đoàn người di chuyển về hướng Manila. Trên tàu vấn đề ăn, uống, và việc giải quyết chuyện cá nhân là cả một vấn đề, nhưng rồi mọi chuyện cũng qua, vì ở hoàn cảnh này con người không còn biết mắc cở nữa. Vị thuyền trưởng hằng đêm vẫn nhìn bầu trời đầy trăng sao để định vị, và lèo lái con tàu cho đến đích. Tôi nhìn ông với lòng đầy khâm phục. Kiến thức của tôi về thiên văn học rất hạn hẹp, tôi chỉ biết có sao Bắc Đẫu, có dãy Ngân Hà, có trăng non trăng già. Nhưng để nhìn những vì tinh tú trên bầu trời và hoạch ra một hải trình để đi thì ngoài khả năng của tôi và nhiều người. Và rồi con tàu vần chạy, và đoàn người vẫn đếm từng ngày hồi hộp, mong thấy bờ bến.
Đến ngày thứ bảy con tàu vẫn chạy theo ven biển, nhưng nơi nào thì cả vị thuyền trưởng cũng không biết! Mọi người trên tàu bắt đầu thắc mắc. Theo như bài tính đơn giản, tàu chạy 10 hải lý một giờ thì khoảng năm ngày hơn là tàu phải đến Subic Bay. Nhưng đã bảy ngày rồi, Subic Bay vẫn như vì sao lạc. Nhiều người trên tau đâm ra lo sợ và góp ý cùng vị thuyền trưởng nên tấp vào bờ để biết tàu đang ở đâu. Vậy là Việt Thủy chuyển mũi tàu hướng vào ven bờ. Khi vào gần bờ, nhiều người dân địa phương, da đen luốc chèo thuyền độc mộc đến cập vào Việt Thủy. Sau khi cho xem bản đồ và hỏi ra thì biết Việt Thủy đã đi lạc về bắc Phi Luật Tân hơn một ngày hải hành, và sắp vào địa phận của giống dân man rợ Bắc Phi vẫn còn ăn thịt người! Mọi người thở phào nhẹ nhỏm, và trong đám đông có nhiều tiếng xì xầm về tài nhìn trăng sao của vị thuyền trưởng!
Việt Thủy cập vào bờ và mọi người trên tàu trút hết nỗi sợ hãi xuông biển. Những người dân Phi Luật Tân miền biển đen đuốc nhưng rất hiền hòa, tiếp đón con tàu Việt Thủy rất niềm nở. Họ chèo thuyền độc mộc mang đầy dừa tươi cập bên Việt Thủy và xin đổi lấy đồ hộp. Biết là sẽ được đến Subic Bay nay mai nên những người trên Việt Thủy không ngần ngại đổi những lon đồ hộp lấy dừa tươi uống. Và có lẽ chính quyền địa phương đã được lệnh nên mang Bác Sĩ và thuốc men đến khám bệnh chích thuốc cho người trên tàu. Với một ít vốn liếng Anh Văn tôi trở thành một thông dịch viên cho những cuộc khám bệnh cho dân tỵ nạn trên tàu. Hầu hết những lời khai bệnh chỉ là nhức đầu, sổ mũi, nóng lạnh nên với vốn liếng Anh Văn bặp bẹ tôi đã giúp nhiều gia đình có con em nhỏ.
Từ đó tôi được nhiều thiện cảm với đòng bào trên tàu hơn, và cũng từ đó họ ân cần ban bố cho tôi một ít thức ăn như sữa đặc và đồ hộp. Tôi vẫn đưa tay nhận lấy mà trong lòng thầm nghĩ: “Những thứ này không cho thì ngày mai cũng sẽ bỏ lại trên tàu thôi, những ngày qua đói khác xin thì không cho, bây giờ mình giúp họ họ lại bố thì của thừa này đây, nghĩ mà buồn cười cho con người.”
Nhưng rồi tôi vẫn làm nhiệm vụ của một thông dịch viên vui tươi.
Đến bây giờ, chắc có lẽ nhiều người đi trên con tàu Việt Thủy vẫn còn đâu đây và chắc chắn họ cũng nhớ những giây phút này. Nhưng có lẽ điều mà tôi nhớ mãi là hình ảnh những người con gái Phi Luật Tân xinh đẹp chích thuốc và săn sóc những đứa bé bị bịnh, vội vàng trao những mảnh giấy nhỏ có đề tên và địa chỉ trước khi Việt Thủy quay đầu về hướng Nam, với một lời dặn ân cần là khi nào đến Mỹ hãy viết thư liên lạc với mấy cô. Tôi gom góp những mảnh giấy nhỏ bỏ vào tuối, lòng vui cười vãy tay chào tạm biệt, và biết vẫn còn có những tấm lòng cao thượng.
Việt Thủy quay đầu rời bến, qua ngày hôm sau là đến Subic Bay. Mọi người vui mừng rời con tàu cũ kỷ, để lại tất cả những thức ăn, nước uống lại trên tàu, bước chân vào trại tỵ nạn Subic Bay.
Trại tỵ nạn là những túp lều bằng vải, nằm san sát trên một sân cỏ bằng phẳng, đã được dựng lên từ lâu. Mỗi túp lều chu vi khoảng 4, 5 thước vuông và được kê hai ba dãy giường bố nhà binh cho khoảng tám người ở. Ngoài những lều vải, trại Subic Bay còn có những khu barrack nằm rãi rác trong khu rừng cây xanh um. Vào giai đoạn đầu của làn sóng tỵ nạn, chiến dịch Đời Sống Mới (Operation New Life), Subic Bay là trung tâm chuyển tiếp, đón nhận thuyền nhân, lập hồ sơ rồi đưa đi những nơi khác như Guam, Wake và vào lục địa Hoa Kỳ. Những lúc cao điểm Subic Bay có thể lên đến vài ngàn người tỵ nạn.
Hằng ngày người tỵ nạn được ăn ba bửa: sáng, trưa, tối. Và những dịch vụ vệ sinh đều được binh lính Mỹ phục dịch. Nhưng sau vài ba tuần lễ đầu, vì tinh thần vệ sinh chung trở nên bê tha nên trại tỵ nạn phân chia những nam thành viên thay phiên nhau đi làm dịch vụ vệ sinh trong trại.
Subic Bay nằm trên hòn đảo Grande Island gần Manila, trên đảo có vài bãi tắm nước trong xanh và nhiều cá bơi lội trong dòng nước. Người tỵ nạn suốt ngày bơi lội ở những bãi tắm này. Ngoài ra trên đỉnh đồi Subic là rừng xoài bên cạnh những nhà tù được xây lên từ thời Phi Luật Tân còn là thuộc địa của Tây Ban Nha.
Một điều đặc biệt là khoảng một tháng trước ngày Sài Gòn thất thủ, vị giáo sư toán của trường đại học Khoa Học Sài Gòn, Lâm Lý Hùng, đã dùng thuyền gỗ nhỏ đưa gia đình (9 người gồm hai vợ chồng và 7 người con) rời Sài Gòn đi Úc Đại Lợi. Ngày đó, khoảng tháng 3, 1975, người dân Sài Gòn xôn xao bàn tán về chuyến đi của gia đình giáo sư Lâm Lý Hùng. Nhiều người ca ngợi lòng can đảm của ông, và nhiều người khác đánh giá sự độc tài của chế độ cộng sản qua chuyến đi một còn một mất của gia đình ông. Khi gia đình giáo sư Lâm Lý Hùng còn lênh đênh ngoài khơi Thái Bình Dương thì Sài Gòn mất, và gia đình ông nhập vào đoàn người tỵ nạn tại Subic Bay. Có lúc giáo sư Lâm Lý Hùng cũng là trại trưởng của trại tỵ nạn Subic Bay.
Người tỵ nạn ở đây, trong khi chờ làm thủ tục để đi định cư, họ được học Anh Văn và đời sống phong tục của dân Mỹ. Chiều tối về, ngày nào cũng vậy, ban quảng trị trại chiếu phim hoạt họa trên màng ảnh lớn cho toàn trại xem. Những khúc phim ngắn của Road Runner, chú thỏ Bug Bunny và cảnh rượt bắt của những con vật trong đời sống hằng ngày, mà mỗi lần một khúc phim chấm dứt là một tràng cười nổi lên, kế đến là hàng chữ “That’s All Folks” lại hiện ra. Có phải những khúc phim đó muốn nhắc lại cho mọi người biết là cuộc chiến giữa Nam Bắc Việt Nam cũng chỉ là những cuộc chém giếc, rượt bắc như trò đùa của những con nộm mà giờ chót đã đến, đã hết rồi, để chỉ còn tràng cười và hàng chữ “That’s All Folks.” Trong hàng khán giả kia đâu phải chỉ có đám con nít! Họ là những nhà trí thức, những vị giáo sư, bác sĩ, kỷ sư, những cấp chỉ huy và những người sinh viên rường cột của nước nhà, là tinh hoa của miền Nam Việt Nam. Đã bị đánh lừa, bị phản bội và bây giờ được nhắc nhở bằng một tràng cười và câu: “Chỉ vậy thôi, các bạn.”
Sau khi nhập trại, làm thủ tục đăng ký tên tuổi nghề nghiệp, tôi lại lang thang trong trại tìm người thân. Tôi đến thung lủng tỵ nạn nơi có treo bảng thông tin to như tấm bảng đen dưới gốc cây, đọc những tin nhắn tìm người thân trên đó. Không thấy tên nào quen, tôi lại lang thang trong rừng người và bất chợt tôi gặp lại hết những người đi trên Long Châu: Anh Hoàng và những anh chị em của anh Hoàng. Tất cả đã đến đây trước bốn đứa chúng tôi. Tay bắt mặt mừng, anh Hoàng gom hết anh em lại và điểm danh không thiếu một ai. Nhưng Điễn và những người lính Lôi Hổ trên tàu há miệng Hải Quân ở căn cứ chuyển vận kho 18, Tân Thuận thì không có mặt trên Subic Bay, họ đã đi thẳng đên Guam hoặc Wake.
Vài ba tuần sau khi đến Subic Bay, anh Hoàng, T và ông Si trở lại Long Châu chạy qua Guam.
Còn lại chúng tôi hằng ngày chỉ biết tắm biển, lên ăn, rồi lại xuống tắm biển rồi lại ăn. Chiều về chun vào mấy lớp Anh Văn học năm ba chữ hoặc lên hồ bơi, bơi lội, thụt bi-da. Sướng quá nên chúng tôi nói: “Vui chơi đời tỵ nạn” là vậy! Có một điều làm những người tỵ nạn chúng tôi rất hãnh diện là đội bóng chuyền của dân tỵ nạn. Nói đúng ra là vài tay bóng chuyền cừ khôi của Hải Quân VNCH. Tôi nhớ một người tên Thạch Sến và một người tên Giám. Hai anh này chơi bóng chuyền rất hay và làm cho đội bóng chuyền của binh lính Mỹ và Philippine phải nghiêng đầu kính phục. Thạch Sến một mình chấp 6 tay bóng chuyền Mỹ mà vẫn thắng vẽ vang dưới tiếng vỗ tay ầm ỉ của người xem! Cho nên những buổi chiều nhiều người kéo nhau ra chờ xem đấu bóng chuyền.
Khoảng một tháng sau lần lượt những người trên đảo đều rời Subic Bay qua căn cứ không quân Clark để đi tiếp. Những người còn lại của nhóm anh Hoàng trên tàu Long Châu đều ra đi khác chuyến. 20-6-1975 tôi rời Subic Bay lên chiếc C-130 (máy bay di chuyển quân đội của Hoa Kỳ) tại căn cứ Clark với vài ba trăm người khác, bay qua Guam.
Những người đến sau tiếp tục ở lại Subic Bay, trầm mình trong làn nước biển xanh, và chiều về lại xem những khúc phim rượt chạy để cuối cùng âm thanh của hàng chữ “That’s All Folks” và tiếng cười lại vang lên trong tâm tư khó chịu của người thất trận!
Chiếc C-130 vội cất cánh rời phi đạo Clark, trong nhấp nháy tôi nhìn lại Subic Bay nhỏ như hột cát. Tiếng động cơ máy bay ầm ì đều đặng, và đoàn người ngồi yên lặng, dõi mắt nhìn qua khung cửa sổ, cố ghi lại hình ảnh một vài giờ vui.
Đồng Sa Băng. 26 tháng 6, 2009.
Đồng Sa Băng
Dấu Chân Người Tị Nạn
Guam và Bản Tình Ca
Chiếc C-130 đáp xuống phi trường Anderson, Guam, căn cứ không quân Hoa Kỳ chiều 20-6-1975. Phi cơ lăn bánh chậm dần và tách ra khỏi phi đạo vào một khu trống. Đoàn người tị nạn khoảng 300 nam - nữ - già - trẻ - lớn - bé, ăn mặc đủ màu, đủ kiểu với những bộ đồ rộng thềnh thoàng được phát từ trại tị nạn Subic Bay, vai mang túi xách lố nhố đứng lên khỏi ghế ngồi. Khi chiếc phi cơ ngừng hẳn, một cầu thang cao, dài được đẩy lại và áp vào thân phi cơ, đoàn người tị nạn lần lượt bước xuống bực thang.
Dưới sự hướng dẫn của binh sĩ Hoa Kỳ, đoàn người xếp thành một hàng dài ngay thẳng, bước đến những chiếc xe buýt màu vàng chờ sẳn trên sân bay. Sau khi năm ba binh sĩ Hoa Kỳ kiểm soát xong, và ra dấu hiệu đoàn người tị nạn đã lên xe, những chiếc xe buýt nối đuôi nhau rời phi trường Anderson.
Tôi ngồi trên xe với đoàn người tị nạn. Chiếc xe chạy boong boong trên đại lộ dọc theo ven biển về phương Nam của đảo Guam. Nhìn chung quanh nhà cửa thưa thớt, bóng cây thấp lòi còi. Bên đường những ngọn cỏ yếu ớt, lưa thưa trải trên lớp đất cát màu trắng đục. Đó đây một vài tiệm ăn nghèo nàn nằm bên cạnh những quán bar. Quang cảnh nơi đây trơ trụi đến hốc hác như những thị trấn ở miền Tây Hoa Kỳ trong những bộ phim Wild Wild West. Mọi người đang chăm chú nhìn quang cảnh hai bên đường thì đoàn xe buýt chạy chậm lại, và quẹo mặt vào một doanh trại bên bờ biển. Tôi đưa mắt nhìn về phía cổng, một hàng chữ trắng, lớn, đậm nét chạy trên tấm biển xanh. Tôi quay qua nói với người con gái ngồi bên cạnh:
“Đây là trại Asan của đảo Guam.”
“Sao anh biết?” Người con gái hỏi tôi.
“Ừ, thì trên bảng ghi là Camp Asan, Marine Barracks Guam kia kìa.”
Chiếc xe buýt ngừng lại trước doanh trại. Mọi người lục đục mang túi xách tay bước xuống xe. Vừa đặt chân xuống đất, tôi thấy một đám người Việt đứng cách xa khoảng vài ba chục thước, lao nhao dõi mắt nhìn về chúng tôi. Họ là những người ti nạn đến đây vài ba tuần trước, ra tìm người quen. Tiếng la tên người ơi ới vang cả khu trại. Những bàn tay đưa lên, những tiếng la đáp lại, và trong đám đông có những gương mặt mừng vui.
Trại Asan là một trong những trung tâm đón nhận người Việt tị nạn trong Chiến Dịch Đời Sống Mới (Operaion New Life) di tản sau ngày miền Nam sụp đổ.
Theo “Operation New Life April 23 – October 16, 1975” của tờ TenderTale.com:
“Vào đầu tháng 4-1975, biết rằng miền Nam Việt Nam sẽ rơi vào tay miền Bắc, Hoa Kỳ ra chỉ thị dùng đảo Guam làm trạm chuyển tiếp để cứu xét những người di tản. Chiều 21-4-1975 chính quyền địa phương phát hiện một chiếc phi cơ của đội Phi Hổ đến Guam với 99 hành khách, đây là giọt nước đầu tiên của dòng thác tị nạn. Hai ngày sau đó, 23-4-1975, làn sóng tị nạn bắt đầu tràn ngập, mở màng cho Chiến Dịch Đời Sống Mới, và dòng thác tị nạn có lúc đã phun ra đến năm ngàn người di tản mỗi ngày.
Trong khi những người di tản đầu tiên tạm cư trong những căn cứ nhỏ rải rác trên đảo Guam, chính quyền nhận thấy giải pháp này không đáp ứng được nhu cầu tị nạn lâu dài, nên đã chỉ thị quân đội bắt đầu thiết lập những trại tị nạn quy mô hơn: Phố hộp (Tin City) gồm những trại lính chung quanh căn cứ không quân Anderson, và Mũi Orote (Orote Point). Mũi Orote thuộc căn cứ Hải Quân Guam được tẩy sạch hơn 500 mẫu tây hoang dã nằm bên cạnh phi đạo để dựng lên hàng trăm căn lều vải và được mệnh danh là Phố Lều - Tent City.”
Kết quả, Mũi Orote là điểm đến của hàng ngàn người di tản đầu tiên. Trong nhóm người này, một phần là quân nhân và những người di tản đến đây bằng phi cơ vào ngày 30-4-1975 và những ngày trước đó. Sau ngày 30-4-1975 những phi trường miền Nam Việt Nam đều bị cưỡng chiếm và phong tỏa, nhưng nhiều người vẫn tiếp tục ra đi bằng tàu Hải Quân của quân lực VNCH hoặc những thương thuyền và tàu đánh cá.

Cũng theo tờ TenderTale.com:
“Ngày 7 tháng 5, 1975 ba chiếc tàu cập vào hải cảng Apra, Guam với gần 15 ngàn người di tản. Và hai ngày kế đó, ba chiếc tàu khác đổ xuống Apra gần 8 ngàn người tị nạn. Tất cả, có trên 115 ngàn người ti nạn đi qua ngã Guam. Một con số trên cả dân số của đảo Guam ở thời đó ít nhất là 25 ngàn người. Trong khi hầu hết những người tị nạn tiếp tục con đường đến đất liền Hoa Kỳ thì có khoảng 500 người chọn Guam làm quê hương thứ hai. Chiến Dịch Đời Sống Mới chính thức chấm dứt vào ngày 16 tháng 10, 1975, nhưng thật ra mãi đến ngày 15 tháng Giêng, 1976 người di tản cuối cùng mới rời khỏi đảo Guam!”
Kết thúc Chiến Dịch Đời Sống Mới có khỏang 140.000 người Việt tị nạn ra đi khắp nơi trên thế giới. Những chiếc tàu đến đảo Guam trong những ngày đầu tháng 5, 1975 gồm có chiếc thương thuyền USS Challenger của Hoa Kỳ, Việt Nam Thương Tín, Tân Nam Việt, và nhiều chiếc tàu khác thuộc Đệ Thất Hạm Đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ. Những ngày kế tiếp hàng loạt những tàu khác như Long Châu, Long Hồ, Đồng Nai, và 45 chiếc chiến hạm của Hải Quân VNCH đến từ Subic Bay.

Dòng thác người tị nạn càng ngày càng đông, Orote Point không thể cưu mang nổi. Từ đó trại Asan được mở ra để đón tiếp người tị nạn. Trại Asan là hậu thân của Trạm Xá Y Tế Asan nằm trên bờ biển phía Đông đảo Guam.
Theo tờ nps.gov:
“Sau khi đệ nhị thế chiến chấm dứt, biển Asan được biết với tên Trại Asan cho đến năm 1947. Trại Asan được xử dụng làm tổng hành dinh và trại lính cho tiểu đoàn công binh Seabees của Hải Quân Hoa Kỳ, tiểu đoàn này đã giúp đở tái thiết đảo Guam thời hậu thế chiến II. Và từ năm 1948 đến 1967 trại Asan được đổi thành Trại Dịch Vụ Dân Sự (Camp Civil Service). Thực chất đó là một căn cứ quân đội nhỏ với những đơn vị gia binh, rạp chiếu bóng ngoài trời, sân quần vợt và trạm cứu hỏa. Đến năm 1968 Hải Quân Hoa Kỳ biến đổi cơ sở này thành Trạm Xá Y Tế phục vụ quân nhân Hoa Kỳ bị thương từ chiến trường Việt Nam. Trạm Xá Y Tế này hoạt động được 7 năm, đến năm 1975 Trạm Xá được đổi thành trại tị nạn, đón nhận dân di tản Việt Nam. Năm 1976 một trận cuồng phong mang tên Pamela đã san bằng trại tị nạn Asan!”
Tôi theo đoàn người bước xuống xe, xếp thành một hàng ngoằn ngoèo như con rắn lần lược đi vào trung tâm cứu xét hồ sơ (Processing Center). Hàng người đông, dài di chuyển chậm chạp như rùa. Rồi cũng đến phiên tôi được phỏng vấn bởi nhân viên phòng Processing Center. Người phỏng vấn là một nhân viên Hoa Kỳ và một thông dịch viên Việt Nam. Những câu hỏi đều bằng tiếng Anh và được thông dịch viên lập lại. Sau này tôi biết những nhân viên phỏng vấn người Mỹ đều biết nói và hiểu tiếng Việt rất rành, nhưng họ vẫn không nói tiếng Việt khi phỏng vấn. Câu hỏi đầu tiên là:
“Gia đình bạn có mấy người và bạn muốn đi định cư nước nào?”
“Dạ em chỉ có một mình và em muốn đi Mỹ.”
“Tại sao muốn đi Mỹ, bạn có người thân nào bên Mỹ không?”
“Dạ em không có bà con nào sống ngoài Việt Nam hết, nhưng em có nhiều người quen là sĩ quan Mỳ và một người là Bác Sĩ Mỹ.”
“Đàn ông hay đàn bà, tên gì, ở tiểu bang nào?”
“Dạ đàn ông, một anh Thiếu Úy tên Bob Beau ở Washington DC, một anh Thiếu Úy khác tên Chilldress ở đâu em quên mất, còn một người Bác Sĩ giải phẩu tên Hugh Crawford ở tiểu bang Cali. Em có tờ giấy bảo lảnh của ông Bác Sĩ đây nề.”
“Bạn quen với những người này trong trường hợp nào?”
“Dạ hồi em làm cho cơ quan USAID ở Sài Gòn.”
“Giấy tờ bảo lảnh của ông Bác Sĩ đâu cho xem.”
“Đây, anh xem xong cho lại em nhe. Ông BS gởi thư này cho em hồi tháng 2, 1975 nói chịu trách nhiệm cho em bất cứ nơi nào, sẽ bảo trợ cho em và giúp em tiếp tục đi học nên em chỉ muốn về nhà ông ấy thôi. Và đây là giấy khai sinh, thẻ căn cước, chứng chỉ Tú Tài đôi, và thẻ sinh viên của em ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn.”
Tôi đưa hết những giấy tờ tùy thân và lá thư của người bạn BS cho người phỏng vấn xem. Xong họ trả lại tôi những giấy tờ và bức thư. Người phỏng vấn trao cho tôi, cũng như mọi người tị nạn khác, một thẻ I-94 nhỏ bằng ba ngón tay rồi bảo trở về trại. Thẻ I-94 là tấm bùa hộ mạng duy nhất mà mỗi người tị nạn Việt Nam được cấp khi vào đất Mỹ. Trên mảnh giấy I-94 có ghi ngày tháng cấp phát, tên người tị nạn được chấp nhận vào Hoa Kỳ theo chế độ “tạm trú” (Parole) và có quyền làm việc tại Hoa Kỳ.
Tôi rời Processing Center, bước chân vào trại Asan một chiều nắng cháy của tháng 6 năm 1975. Doanh trại là những căn nhà hẹp, dài, thông suốt từ đầu này đến đầu kia. Trong căn trại trống trải người ta đặt hai dãy giường bố dọc theo chiều dài của trại, mỗi giường cho một người, và chừa lối đi ở giữa. Những gia đình đông người được ở sát bên nhau, và họ lấy những tấm vải treo lên để có chút riêng tư. Những người độc thân có thể khai là bạn bè và cũng được ở chung trong một khu.
Hành trang tôi mang theo chỉ là một túi vải đựng năm ba cuốn sách giáo khoa và một cây sáo trúc. Nhưng cây sáo trúc không chịu nổi những va chạm trên đường đi nên đã bị dập, không còn phát ra tiếng sáo. Bộ sách Toán Lý Hóa và cuốn tự điển sau khi cùng tôi nhảy xuống biển Đông ngoài khơi Vũng Tàu ướt như chuột lột, giờ những trang giấy sần sùi, cong lên làm cho bộ sách có phần “mập” ra. Nhìn chung quanh những người “hàng xóm” của tôi cũng đang nhét những túi vải dưới gầm giường. Có người bật lưng ra trên giường thở dài một tiếng, có người bắt chuyện làm quen với những người “láng giềng.” Trong giây lát căn trại đầy ấp những người “cũ” đến tìm người quen, tiếng chào hỏi, nhừng câu dặn dò, tiếng cười làm cho căn trại vui hẳn lên. Tôi quay qua bên cạnh, bắt gặp người con gái ngồi bên tôi trên chuyến xe buýt từ sân bay Anderson, đang sắp xếp đồ đạt cùng gia đình. Tôi nhìn nàng, chỉ tay xuống gầm giường và nói:
“Nhờ em ngó dùm gói đồ của anh chút nhe.”

“Cái gì trong đó, quan trọng không?”
“Đối với anh thì quan trọng, còn người khác thì cho còn bị chửi nữa.”
Nàng cười dòn và nói:
“Vậy đưa đây em giữ dùm cho. Mà anh đi đâu?”
Tôi trao túi sách cho nàng rồi bước ra sân doanh trại. Bóng người đi lại trong sân rộn ràng, tôi bước đến bản thông tin chăm chú đọc từng mẫu tin nhỏ mong tìm được một vài tên quen thuộc. Không thấy. Tôi lại lang thang khắp nơi trong trại tìm nhóm người đi trên tàu Long Châu. Không gặp ai, tôi trở về phòng gieo người trên giường nằm nhìn trần nhà. Tôi thấy cũng lạ, ngày ra đi tôi chỉ đi một mình, tất cả anh em, bạn bè, Phương và gia đình đều ở lại Việt Nam. Nhưng bây giờ, mỗi lần bước chân đến trại tị nạn nào việc đầu tiên tôi làm là đến bảng thông tin tìm tên, may ra có một tên gọi là Phương! Nhưng rồi tìm đỏ mắt cũng không thấy tên Phương mà tôi muốn tìm, tôi lại lủi thủi trở về trại. Rồi mỗi lần có tin người tị nạn mới nhập trại là tôi lại lật đật chạy ra xem, may ra gặp được người thân. Chưa lần nào tôi được gặp hên, nhưng cũng chưa lần nào đoàn người mới đến trại Asan mà tôi không ra đón xem. Mà không chỉ riêng mình tôi làm điều này! Thì ra những người tị nạn khác, như tôi, cũng đang nhớ nhà, nhớ người thân.

Chiều về tôi ra xếp hàng vào nhà ăn. Hàng người dài lê thê, tôi bước ra khỏi hàng ngũ và đi từ đầu đến cuối, trong hàng người này tôi tìm và gặp lại hết những người đi trên tàu Long Châu. Nhưng Điện, người cùng tôi nhảy xuống biển Đông, không đến đây. Một lần nữa chúng tôi được hội ngộ, nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn rồi chúng tôi cũng phải chia tay, như mấy lần trước. Cuộc đời như những cánh bèo trong dòng nước. Sau này tôi biết Điện lên tàu Hải Quân Hoa Kỳ cùng với hàng ngàn người khác đến Wake.
Trong trại tị nạn có những em bé ra đi cùng cha mẹ, nhưng khi cha mẹ đưa những em bé này từ tàu nhỏ lên tàu lớn, nữa chừng tàu đầy người, rút giây thang không không cho người lên thêm. Cha mẹ chỉ biết đưa tay ra khóc, la ú ớ nhìn con đi một nơi mình một nẽo. Có em may mắn gặp lại cha mẹ trên trại, có em chỉ biết theo chân những người “cha nuôi”. Thỉnh thoảng người ta nhìn thấy những người “cha nuôi” bắt đắc dĩ dắt tay “con mình” đi lang thang trên trại như gà trống nuôi con. Bạn tôi, Sơn, 20 tuổi. Một hôm tình cờ một em bé 13 tuổi đi trong Chiến Dịch Babylift (Operation Babylift), không cha, không mẹ, không người thân, gặp Sơn, Sơn dẫn về trại. Người trong trại hỏi:
“Ai đây?”
Sơn trả lời:
“Thằng con nuôi của tui.”
Mọi người bật cười:
“Trời! Thằng con gì mà lớn hơn thằng cha rồi.”
Vậy mà “hai cha con” dẫn nhau đến Mỹ rồi cũng học thành tài như ai!
Lúc tôi đến thì trại Asan đã đông người lắm rồi. Sinh hoạt nơi đây rất nhộn nhịp. Như trên đã nói, trại Asan trước kia là một bệnh xá, có nhà ăn, sân chơi, khu chiếu bóng ngoài trời, và bãi biển nằm bên cạnh. Trại Asan có một người tên Tony Lâm làm đại diện trại. Bên cạnh Processing Center là một trụ đèn cao, trên trụ đèn có gắn hai, ba loa phóng thanh chỉa ra mọi hướng. Giống như Sài Gòn sau ngày “giải phóng” vậy, chính quyền gắn loa phóng thanh trên nhiều cột đèn khắp ngõ hẻm để nhắc nhở dân. Loa phóng thanh phát lên tùy hứng, không kỳ thị giờ giấc, bất kể sớm - trưa - chiều - tối và luôn cả lúc những người mẹ đang nhọc nhằn ru con vào giấc ngủ! Hay sáng sớm tinh sương những người lao động vẫn còn vùi trong giấc ngủ thì, tiếng loa phóng thanh vang lên, đinh tai nhức óc! Mà chuyện này vẫn còn xảy ra hơn ba mươi năm, sau khi chiến tranh chấm dứt!
Loa phóng thanh ở cột đèn Asan đưa những tin nóng liên quan đến người tị nạn, và thỉnh thoảng người tị nạn cũng nhờ ban quản trị rao tìm người thân, con em đi lạc.
Bấy giờ ở Guam có một chương trình phát thanh tiếng Việt do cô Kim Vui phụ trách. Cô Kim Vui là nữ ca sĩ tại Sài Gòn thời 50’s, 60’s, có giọng ca cao vút được thính giả ái mộ qua những bài ca của Phạm Duy. Nữ ca sĩ Kim Vui lấy chồng Mỹ và lúc đó đang cư ngụ tại Guam nên cộng tác với chương trình đài phát thanh để đưa tin cho hàng ngàn người Việt tị nạn. Ngoài ra đảo Guam còn có phát hành nhật báo Chân Trời Mới, lưu hành trong các trại tị nạn. Nhật báo Chân Trời Mới khổ nhỏ hơn báo bình thường, có 4 trang và tiếng Việt phải bỏ dấu bằng tay. Qua đài phát thanh và nhật báo Chân Trời Mới, người Việt tị nạn được cập nhật nhiều thông tin về cộng đồng người tịn nạn và các nghệ sĩ có mặt tại đảo Guam như: Phạm Duy, Võ Phiến, Vũ Khắc Khoan, v.v. Ca sĩ Khánh Ly thì ở bên đảo Wake. Nhưng tin tức bên trong Việt Nam thì rất hiếm hoi.
Mỗi buổi sáng, khi mặt trời lên cao, hàng ngàn người tị nạn đổ ra sinh hoạt nhộn nhịp. Processing Center là nơi thu hút nhiều người. Người người đi và đến Processing Center để điều chỉnh, bổ túc hồ sơ và tìm người thân tại các trại tị nạn khác. Trong trại cũng mở những lớp học Anh Văn cho người tị nạn. Những người dạy Anh Văn thường là những người tự nguyện và một số là giáo sư Anh Văn từ Sài Gòn trong đoàn người tị nạn.
Nhà ăn mở cửa sáng, trưa, chiều và lúc nào đồ ăn cũng dư thừa. Mà thường khi con người dư thừa thì hay sinh chuyện. Sữa tươi đuợc uống xả dàng, đến nổi nhiều cô mang sữa tươi về trại tắm cho da đẹp. Khi bị phát hiện thì bị cảnh cáo và từ đó sữa tươi không còn được lấy tự do nữa! Thượng vàng hạ cám, hàng ngàn người chen chúc trong một khu trại chật hẹp, khi cái ăn cái mặc đầy đủ, con người nghĩ đến cái đẹp, và nhu cầu đòi hỏi. Từ đó những bóng hồng thấp thoáng xuất hiện. Nói cho cùng thì xã hôi lớn bé nào cũng mang đầy đủ đặc tính của con người.
Những người tị nạn trong trại Asan mỗi tuần được xe buýt chở ra phố thăm chơi, mua sắm một lần, (nếu có tiền và muốn đi.)
Nhóm anh Hoàng, những người đi từ chiếc Long Châu qua, đều có mặt tại đảo Guam. Anh Hoàng, T và ông Si được chủ tàu Đồng Nai mướn ra ở và giử tàu Đồng Nai đậu tại Apra Harbor. C, người đi cùng tôi trên Việt Thủy, vì nhớ nhà quá đã xin trở về Việt Nam. Và ngày 16-10-1975 chiếc tàu Việt Nam Thương Tín rời đảo Guam chở gần 1500 người hồi hương, trong đó có C. Tôi không biết C và hàng ngàn người kia nghĩ gì, khi họ trở lại Việt Nam, thay vì ôm choàng người thân sau ngững ngày xa cách, lại đi thẳng vào trại tù. Và không biết những người cọng sản trả lời cho thế giới như thế nào về những lời hứa khoang hồng của họ trước khi Việt Nam Thương Tín rời đảo Guam! Nhưng ở đời không hiếm gì cuộc hội ngộ để rồi chia ly! Như chúng tôi, những người trên tàu Long Châu và hàng ngàn người đang sống trong căn trại Asan, ngày mai mỗi người một ngã.
Chiều tối về, Asan lên đèn và khu chiếu bóng thường chiếu những phim võ thuật của Lý Tiểu Long như Mãnh Long Quá Giang, Đường Sơn Đại Huynh, v.v. Và trên khu đất trống đêm nào cũng chật người xem.
Hằng ngày tôi thường lang thang ngoài bãi biển bên trại. Biển cạn có nhiều sỏi đá, không có ai thích tắm biển ở đây. Hay có lẽ những cảnh tượng hãi hùng trên biển làm người ta sợ mỗi khi nhìn nước biển! Tôi thường ra đây lội trong biển và bắt những con sao biển, sao biển ở đây rất nhiều. Chỉ bắt chơi cho vui, qua ngày tháng, rồi cũng trả chúng lại với biển cả. Có những buổi chiều tôi ngồi bên bờ đá nhìn xa xa ra đại dương, và bên kia bờ là quê hương, là Mẹ, là anh em, là Phương.
Và mỗi ngày, khi chiều về mặt trời lặng dần xuống bên bờ Tây của hải đảo là tiếng hát của ca sĩ Thái Thanh lại nổi lên. Chiều nào cũng vậy, cũng giờ đó, tiếng hát đó và bắt đầu từ chiếc loa trên cao của cột đèn, lời ca:
“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! …”
Tiếng hát cất vang và lịm dần trong bóng đêm với hàng ngàn con tim thổn thức. Tiếng hát độc ác hay tiếng hát vô tình đã làm rơi giọt nước mắt, của tôi, và chắc của nhiều người khác, trong đêm trường!
Một tháng sau, giả từ bạn bè, tôi lại leo lên chiếc xe buýt của ngày đầu trở lại sân bay Anderson với hàng trăm người tị nạn khác. Ở tạm trong Hilton Hotel, Anderson một ngày. Nắng chiều ấm áp, tôi theo vài người xuống tắm biển bên cạnh Hilton Hotel. Một tháng trước tôi thường trầm mình trong biển trong xanh cùng với những con cá đầy màu sắc ở Subic Bay, và nghĩ rằng đây là biển tắm đẹp nhất mà tôi từng biết. Nhưng, hôm đó bước chân xuống biển Anderson tôi ngở mình đang nằm trong khúc biển blue lagoon nào! Tuyệt đẹp, biển trong xanh, cát trắng, sóng lăn tăn bên cạnh đàn cá bơi lội! Tôi ngủ lại một đêm trong khách sạn Hilton ở Anderson rồi ngày mai lên phi cơ B747 rời đảo Guam.
Khi máy bay cất cánh tôi nhìn xuống đảo Guam, Asan nhỏ dần và lời ca:
“Tiếng nước tôi…!
Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi …”
vẫn còn văng vẵng bên tai!
Biết đến bao giờ máy bay mới đáp xuống trại Pendleton, California? Tôi cũng không buồn muốn biết.

Đồng Sa Băng. 10 tháng 7, 2009.
Đồng Sa Băng
Dấu Chân Người Tị Nạn
Pendleton, Người Di Tản Cuối
Sau hơn mười hai giờ băng qua Thái Bình Dương với đường bay gần mười ngàn cây số, phi cơ tiếp cận bờ duyên hải miền Tây Hoa Kỳ. Từ độ cao, trên tầng mây, phi cơ rơi dần. Càng lúc, mặt nước và hình ảnh những con thuyền càng rõ thêm, và trước mặt là một thành phố nhuy nga, với những cao ốc chằn chịt lộ dần trước những con mắt ngỡ ngàng của đoàn người tị nạn. Chiếc phi cơ bay xuyên qua thành phố ven biển với nhà cửa và những hệ thống xa lộ đan nhau như màng nhện! Phi cơ tiến về vùng núi trục lúc với những bụi cây lòi còi, bao quanh một thung lũng rộng lớn với cánh đồng cỏ màu vàng hung, như màu tóc của những nàng thiếu nữ vùng Bắc Âu.
Chiếc Boeing 747 chở trên 300 người tị nạn Việt Nam rời sân bay Anderson đảo Guam sáng ngày 20-7-1975, đảo một vòng quanh những ngọn đồi bên cạnh thung lũng và đáp xuống phi trường quân sự Camp Pendleton, California cùng ngày.
Tôi theo đoàn người tị nạn vội vàng rời khỏi ghế bước về cửa máy bay, mắt lức láo nhìn xuyên qua cửa sổ với nhịp đập con tim mỗi lúc một nhanh. Cửa phi cơ mở tung, trước mặt tôi là những ngọn đồi trải dài phía sau phi đạo. Những ngọn đồi sỏi đá, không cây cổ thụ, không màu xanh um, không suối nước, không như những ngọn đồi đầy ấp những đồi Sim, những bụi Chùm Chày, Mẫn Khiểng xanh tươi nơi tôi sinh ra và lớn lên. Những ngọn đồi vàng úa dưới sức nóng mặt trời nơi vùng sa mạc! Nhưng là những ngọn đồi “Miền đất hứa” của biết bao giống dân trên thế gian này!

Một lần nữa tôi cùng những người tị nạn leo lên chiếc xe buýt màu vàng rời phi trường về trại Pendleton.
Trại tị nạn Pendleton thuộc tiểu bang California là trại tị nạn đầu tiên trong bốn trại tị nạn, nằm trong đất liền Hoa Kỳ, dùng để đón nhận người tị nạn Việt Nam di tản sau ngày 30-4-1975 trong Chiến Dịch Đời Sống Mới. Ba trại tị nạn khác lần lược được thiết lập sau trại Pendleton gòm có: Trại Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas; Trại Eglin Air Force Base, tiểu bang Florida; Và cuối cùng là trại Indiantown Gap, tiểu bang Pennsylvania.
Trại tị nạn Pendleton được thiết lập bằng những lều vải màu xanh quân đội, trải dài trên một thung lũng bên cạnh những ngọn đồi. Những lều vải vuông tượng đủ lớn cho mười giường bố, mỗi giường cho một người.
Không hiểu những lều vải ở trại Pendleton thành lập từ lúc nào? Nhưng sau ngày gặp lại người bảo trợ, tôi hỏi:
“Từ tháng 2, 1975 làm sao ông biết miền Nam Việt Nam sẽ mất mà viết thư bảo lảnh cho tôi?”
Người bảo trợ nói rằng:
“Từ đầu năm 1975 đã có nhiều nguồn tin bí mật cho biết Hoa Kỳ thiết lập trại tị nạn Pendleton để tiếp nhận người miền Nam Việt Nam di tản. Một số những người có liên quan với quân đội Hoa Kỳ hay phục vụ tại Việt Nam trước đây biết chuyện này. Từ năm 1971-1973 qua là Bác Sĩ giải phẩu tình nguyện phục vụ cho quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam, vì vậy mà qua biết và viết thư đở đầu cho em từ hồi tháng 2-1975.”
Tôi nghe qua câu trả lời của ông mà lòng bàng hoàng. Thì ra chính phủ Hoa Kỳ đã biết trước và có cả chương trình lập nên những lều vải này để đón nhận những người bạn một thời cọng tác với họ, sau khi quyết định cắt đứt mọi viện trợ quân sự, bỏ rơi miền Nam Việt Nam cho khối cọng sản Tàu, Nga thôn tính!
Dù sao đi nữa, quê hương này cũng thôi máu đổ! Nhưng dân tộc Việt Nam lại rơi vào một khúc quanh lịch sử khác. Trước năm 1975 người dân Việt Nam sống ở nước ngoài rất ít, có thể nói chỉ có ít trường hợp vì theo chồng, đi du học hoặc làm việc trong những cơ quan sứ quán.
Nhưng sau ngày Việt Nam thống nhất, hàng trăm ngàn người, thậm chí có cả hàng triệu người Việt Nam rời quê cha đất tổ tìm tự do ở những quốc gia thuộc chế độ dân chủ. Sự kiện này đã đi vào lịch sử thế giới loài người.
Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, đoàn xe buýt chở đầy người tị nạn tiến vào một thung lũng chứa đầy lều vải nằm san sát bên nhau. Và một lần nữa những người tị nạn lại xuống xe, xếp thành từng hàng đi vào trung tâm thành lập hồ sơ (Processing Center) làm thủ tục nhập trại. Và cũng một lần nữa những người cũ lại nhôn nhao tìm người thân trong đoàn người mới.
Sau khi đăng ký, lưu lại lý lịch cá nhân và gia đình để lập hồ sơ tìm người bảo trợ, người tị nạn được đưa vào những căn lều trong cuộc sống tập thể.

Sau một chuyến bay dài mệt mỏi và hàng giờ xếp hàng để làm thủ tục tị nạn, tôi mệt đừ người. Đi từ Processing Center về căn lều vải, tôi gieo người trên chiếc giường bố và thiếp đi như một đứa bé. Đến khi tỉnh dậy thì trời đã tối, tôi lại tiếp tục ngủ cho đến ngày hôm sau. Những buổi sáng nơi đây như một trại lính, không có đồng hồ báo thức, không có tiếng gà gáy ban mai nhưng người ta thức dậy thật sớm. Vì mỗi buổi sáng, tiếng hát từ loa phóng thanh lại vang lên lời ca:
“Trời hôm nay thanh thanh, gió đưa cành mơn man tà áo.
Làn mây trôi vây quanh, ánh vừng hồng chiếu xuống niềm tin…”
để chào đón một ngày mới. Và tôi thức dậy, mò xuống giường tìm đường ra khu nhà ăn.
Việc đầu tiên tôi làm vẫn là ra bảng thông tin dò tên. Dù biết rằng cơ duyên may mắn để tôi tìm được những người thân trong gia đình hay bạn bè rất mong manh, nhưng tôi vẫn dò từng tên trên những bản thông tin như dò danh sách thí sinh trúng tuyển kỳ thi Tú Tài. Cũng như những lần trước, những người tôi muốn tìm không bao giờ để tên lại trên tấm bảng đen kia. Nhưng rồi lần lượt tôi cũng tìm được hết những người anh em anh Hoàng trên tàu Long Châu. Những người tôi quen biết chỉ có bấy nhiêu thôi, trên hàng chục ngàn người ở trại Pendleton, tôi chỉ quen biết chừng mươi người trên tàu Long Châu. Ngoại trừ N và Th, hai người này khi rời đảo Guam đã đi đến trại Fort Chaffee. Nơi đây tôi cũng gặp lại Điện, người cùng tôi rời Việt Nam trên chiếc tàu đổ bộ của Hải Quân tại Căn Cứ Chuyển Vận Kho 18, Tân Thuận chiều 29-4-1975.
Trại Pendleton chia ra thành nhiều trại nhỏ, không cách xa lắm, tôi và nhóm anh Hoàng ở trại 8. Bên cạnh có trại 5, 6, và 7. Những trại mang số nhỏ hơn là những barracks dùng cho người Miên ở, biệt lập trên một khu riêng, có vẽ khang trang sạch sẽ hơn, và từ trại 5,6,7,8 muốn đến đó phải đi bằng xe buýt. Bên cạnh những lều vải là một căn nhà nhỏ dùng làm trung tâm thiết lập hồ sơ tị nạn (Processing Center). Ngoài ra có nhà ăn, khu vui chơi cho trẻ con, khu PX (Pacific Exchange - bán những vật dụng hằng ngày cho những ai có tiền, tôi nhớ thuốc lá như Lucky, Pall Mall ngày ấy giá 25 xu một gói.)
Pendleton còn có khu nghe nhạc sống ngoài trời, có sân bóng chuyền và thỉnh thoảng có tổ chức đấu võ đài giải vui cho trại. Tôi là một vận động viên trong một trận đấu võ đài tự do gòm cả quyền Anh, Taekwondo, Việt Võ Đạo, Thiếu Lâm Tự, ai có sở trường nào dùng thứ đó. Đối thủ của tôi là một người chuyên nghiệp võ nghệ, tôi nhớ hình như anh ta tên Thước. Tôi không có ý định ra đấu võ đài, nhưng vì lời gù của Thước và những người bạn, tôi tham gia cho vui. Sở trường của tôi là Taekwondo. Trận đấu kéo dài 3 phút, Trước hàng trăm tiếng vỗ tay reo hò, cổ võ cho trận đấu, Thước tống tôi một cú xém rớt đài và tôi song phi một cú đưa Thước nằm lửng lơ trên sợi dây buộc khán đài. Kết cuộc trận đấu, không ai thắng không ai thua. Nhưng hình như võ sĩ Thước muốn dùng cơ hội đó để quảng bá cho việc dạy võ sau này của anh ta! Còn tôi, võ thuật chỉ là một môn thể thao, không hơn, không kém.
Ở thời điểm tháng 7-1975 trại tị nạn Pendleton đã có hàng chục ngàn người đến và đi. Giai đoạn đầu của chương trình tị nạn, từ tháng 5 đến khoản giữa tháng 7, những người tị nạn thường được bảo trợ bằng một cá nhân hay gia đình công dân Mỹ. Nhưng chính sách này gặp phải sai lầm, là, những cá nhân hay gia đình người bảo trợ thường là những nông dân cần người làm nông trại. Nên đã bốc lột sức lao động của những người tị nạn Việt Nam trong các nông trường. Từ những than phiền của những người tị nạn bị đưa về làm việc tại nông trại, chính quyền liên ban đã chấm dứt chính sách bảo trợ qua cá nhân, và bắt đầu chương trình bảo trợ qua một nhóm người, hay cộng đồng và đặc biệt là qua hội nhà thờ, như nhà thờ đạo Tin Lành. Từ đó Church World Services được nói đến nhiều. Và những người bảo trợ đi nông trại cũng được trở về trại tị nạn để tìm bảo trợ mới.

Hầu hết những người tị nạn ra đi trong Chiến Dịch Đồi Sống Mới là những cá nhân hay gia đình có kiến thức học vấn cao trong xã hội miền Nam Việt Nam. Họ là những viên chức nhà nước, là những sĩ quan QLVNCH, là kỷ sư, Bác Sĩ, là giáo sư, là những sinh viên học sinh, v.v… Nói tóm lại, đất nước này đã không tốn công huấn luyện mà tận dụng một nguồn nhân lực dồi dào phong phú, đã thế còn sinh ra những lớp người ưu tú cho những thế hệ sau. Vì chính họ đã là những công dân ưu tú.
Một số người Việt Nam còn nặng ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp, và một số có khuynh hướng bất đồng chính kiến với Hoa Kỳ nên đã đưa đơn xin tị nạn tại các nước ngoài Hoa Kỳ như Gia Nã Đại và Pháp quốc. Nhưng cuối cùng Hoa Kỳ vẫn là miền đất hứa. Tôi có quen một anh bạn trong trại Pendleton, Thức, sinh viên Luật trước năm 1975. Anh xin được định cư ở Gia Nã Đại và anh đã được tọa nguyện. Nhưng sau khi đến Gia Nã Đại chưa được một tháng thì anh viết thư vào trại nhờ bạn bè giúp đở bảo trợ anh qua Mỹ, vì Gia Nã Đại không có ngân sách giúp đở người tị nạn Việt Nam đi học đại học. Nhưng anh ta không thể trở lại Mỹ được. Một khi đã chọn định cư tai một nước nào khác thì Hoa Kỳ không cho nhập trại trở lại.
Những thủ tục và nguyện vọng đi định cư ở tiểu bang nào hay nước nào đều phải làm lại tại trung tâm cứu xét hồ sơ (Processing Center.) Có những người không còn giấy tờ tùy thân chứng minh mình là ai, tên gì, mấy tuổi, nhưng vẫn được thiết lập hồ sơ và được đưa đi định cư theo ý muốn. Nhiều người vì buồn bả và mong sớm rời trại tỵ nạn để định cư làm ăn, không cần phải lựa chọn tiểu bang nào. Với những người này tìm người bảo trợ tương đối dễ và ra đi sớm.
Tôi vì có người quen là vị Bác Sĩ hứa giúp đở trở lại trường đi học nên đã đăng ký với Processing Center và muốn được định cư tại tiểu bang California. Sau ngày nhập trại Pendleton, Điện nhập chung hồ sơ của tôi để được cùng bảo trợ bởi vị Bác Sĩ trên. Sau ngày thành lập hồ sơ bảo trợ, vị Bác Sĩ lại đi nghĩ mát bên Âu Châu đến hai tháng mới trở về. Nhưng sau này chương trình bảo trợ không cho phép cá nhân bảo trợ nên người bạn Bác Sĩ chỉ được bảo trợ chúng tôi qua một hội nhà thờ hay một tổ chức nào đó.
Hồ sơ bảo trợ đã được thành lập xong, mọi người chì còn nằm chờ nhân viên Processing Center gọi lên đường, hay bổ túc một số tin tức khi cần. Và mỗi ngày số người ra đi càng nhiều. Trại Pendleton có thể nói là trại lớn nhất trong bốn trại tị nạn ở Mỹ, (và trại 8 là trại đông người nhất trong những trại ở Pendleton.) Người tị nạn đông như kiến và sinh hoạt ở đây ồn ào bắt đầu từ sáng sớm đến chiều hôm. Nhà ăn mở cửa ba buổi: sáng, trưa, chiều tối. Tôi nhớ có một hôm đứng xếp hàng lảnh đồ ăn với nhóm anh em anh Hoàng. Chúng tôi nói với người phát đồ ăn:
“Give me chicken legs.”
Và những đùi gà thơm ngon được bỏ đầy dĩa.
Người đàn ông đi sau thấy ngon quá cũng xin đùi gà. Nhưng không hiểu sao người phát đồ ăn cứ lắt đầu và bỏ đầy cổ gà lên dĩa đồ ăn cho người đàn ông nọ. Ông ta trả lại và nói muốn lấy đùi gà. Người phát đồ ăn lại bỏ cổ gà lên dĩa. Bực mình quá ông ta la lớn lên:
“Give me chicken negs.”
“What?” Người phát đồ ăn hỏi to.
“Chicken negs.” Người đàn ông lập lại.
“Chicken necks?” Người phát đồ ăn hỏi lại.
“Yes - chic - ken - negs.” Người đàn ông khẳn định.
Người phát đồ ăn nói:
“Okay, here’s your chicken necks.”
“Đù… thằng Mễ này nó khùng rồi ta.” Người đàn ông bực tức.
Anh T thấy vậy nói với người đàn ông nọ: “Anh phải nói là chicken legs chứ không phải chicken negs, chicken necks là cổ gà.” Và rồi anh T gọi chicken legs cho ông ta luôn.
Có những hôm trại tổ chức nhạc sống do các băng nhạc bên ngoài vô giúp vui cho đồng bào tị nạn. Và những buổi chiều, trên con đường đất đỏ, có biết bao “tài tử giai nhân” dập diều nắm tay nhau bước đi dạo mát.
Những ngày tháng bên nhau với bạn bè trên chiếc tàu Long Châu rất ngắn ngủi. Chúng tôi hầu hết độc thân ngoại trừ hai vợ chồng anh K và chị Th. Hằng ngày, ngoài giờ ăn ra, chúng tôi (anh Hoàng, anh T, S, H, Điện, Tâm con, và tôi) thường lang thang trên những ngọn đồi phía sau trại 8, lùng rượt đuổi những con chó sói, chồn, và đập phá những tổ ong ruồi trên cành cây. (Chó sói nơi đây rất nhiều, những buổi tối chúng thường xuống chung quanh trại kiếm đồ ăn, cắn xé và tru lên những hồi dài nghe rợn người). Đôi khi chúng tôi phát giác những tổ ong ruồi ở dưới đất, đập phá bị chúng chích, rượt chạy như đám con nít!
Có những hôm cảm thấy tù túng bên trong bốn bờ rào khuôn viên trại, chúng tôi chun rào lội lên đến đỉnh núi sau trại tị nạn. Con đường lên núi không gay go lắm, chỉ là những chồi cây thấp như những bụi sim, bụi móc trên rừng núi miền Trung nước Việt. Đứng trên đỉnh chúng tôi nhìn xuống chân núi bên kia, xa xa là bóng dáng thành phố với nhà cửa. Những mường tượng về cảnh nhộn nhịp bên kia chân núi và sự thèm thuồng một vài giờ sống động để bù lại chuỗi ngày tồi túng trong trại muốn xuối dục đôi bàn chân bước đi. Nhưng rồi chúng tôi đành phải ngồi trên đỉnh núi, chỉ biết nhìn và hít làn gió Santa Ana, làn gió mang theo hơi mát và mùi biển mặn của Thái Bình Dương.
Những buổi chiều dài lang thang trên sườn núi rồi cũng qua. Trại tị nạn càng ngày càng thưa người. Mọi người đều có một lựa chọn cho tương lai trước mặt. Hằng ngày Processing Center bận rộn với những chuyến ra đi. Có những chuyến đi chỉ là một cá nhân lẽ loi, âm thầm rời trại để hòa nhập vào cuộc sống mới. Hôm ra đi chỉ là một cái bắt tay của vài người bạn mới quen.
Một tháng sau khi đến trại chúng tôi cũng lần lượt chia tay. Vợ chồng anh K và chị Th chấp nhận bảo trợ và đã lên đường về thành phố Jacksonville, Florida. Anh Hoàng và anh T chọn miền Đông Bắc Hoa Kỳ và đã rời trại về thành phố Philadelphia, Pennsylvania. S và H về Akron, Ohio, miền Trung Hoa Kỳ nơi có N và Th từ Fort Chaffee đến. Ông Si, bạn anh Hoàng bay về thành phố Savannah, Georgia và tiếp tục cuộc sống nghề biển. Những buổi chia tay thật buồn, chúng tôi chỉ biết siết tay nhau và chúc những lời may mắn, rồi cuối mặt lặng lẽ bước đi.
Bây giờ chỉ còn lại tôi và Điện và những người tị nạn không quen biết trong khu trại này.
Tôi rời Việt Nam với mục đích duy nhất là muốn được tiếp tục đi học. Và sự hứa hẹn của người bạn Bác Sĩ bảo trợ giúp tôi trở lại trường chính là điểm tựa. Hằng tuần Processing Center vẫn gọi tôi lên văn phòng, hối tôi phải chấp nhận hội bảo trợ nào đó để rời trại. Mỗi lần được kêu lên Processing Center tôi luôn hỏi:
“Khi ra với hội bảo trợ này tôi có được vào trường học không?”
Nhân viên Processing Center bảo tôi:
“Ra đó rồi việc đi học sẽ tính sau.”
“Vậy cho tôi đợi khi nào người Bác Sĩ bảo trợ tôi trở lại tôi sẽ đi.”
“Nếu vậy thì em phải chờ ở đây nữa. Mọi người đã đi hết rồi, em không thấy buồn sao?”
“Dạ không. Em xin chấp nhận chờ.”
Và cứ thế, mỗi lần Processing Center tìm hội bảo trợ cho tôi, nhưng không cho tôi biết về tình trạng đi học, tôi lại từ chối bảo trợ, và chờ vị Bác Sĩ trở lại từ chuyến nghĩ mát ở Âu Châu.
Và mỗi ngày trôi qua, bóng người trong trại lại ít dần. Tôi lại thấy nhớ tiếng ồn ào náo nhiệt của thời gian qua.
Tôi thường lang thang ở Processing Center, nơi nhiều người đến để biết tin tức họ sẽ đi về đâu. Rồi một hôm tôi bắt gặp đôi mắt và gương mặt của một người. Người đó khoảng 15, 16 tuổi, tuổi của những đứa em gái tôi, nhưng em có gương mặt và ánh mắt của Phương. Tôi đã giựt mình khi thấy em lần đầu. Tôi thường đi bên người con gái nhỏ này, không nói, không chào, không hỏi, tôi chỉ muốn nhìn em thôi. Như tôi đang nhìn Phương! Tôi biết em đi với cha mẹ và hai đứa em nhỏ. Nhưng em làm sao biết được trong em tôi đã tìm lại những ngày thơ mộng. Có đôi lúc em nhìn tôi và nở nụ cười, có lẽ em đã biết. Nhưng rồi một ngày nọ em đã theo gia đình đi về tiểu bang Connecticut, mang theo ánh mắt và nụ cười của một người tôi thương.
Rồi lần lượt tất cả những người trong trại 8 đã ra đi. Chỉ còn lại tôi và Điện vẫn ngồi chờ người bảo trợ từ trời Tây. Cuối cùng trung tâm Processing Center phải dời tôi và Điện lên ở cùng với những người Miên ở trại 1 để họ tháo gở trại 8! Những trại 5, 6, 7 và 8 trở thành bãi đất màu nâu đỏ.
Một tuần lễ sau khi lên trại 1, Processing Center báo cho tôi và Điện biết người Bác Sĩ kia đã trở lại và liên lạc với họ. Hồ sơ bảo trợ của tôi và Điện được đúc kết giữa Bác Sĩ H. Crawford và hội nhà thờ Tin Lành, với thỏa thuận là một gia đình của nhà thờ Tin Lành cho chỗ ở cho tôi và Điện, tiền ăn của tôi và Điện thì được đài thọ bởi Bác Sĩ H. Crawford. Và ngôi trường mà tôi và Điện sẽ nhập học là Pepperdine University at Malibu, California, với bốn năm học bổng toàn phần (tiền ăn, tiền ở đại học xá, tiền sách vở và học phí).
Sáng ngày 16-10-1975, ngày chính thức chấm dứt Chiến Dịch Đời Sống Mới (Operation New Life), một tín đồ của hội nhà thờ Tin Lành cùng Bác Sĩ H. Crawford đến trại Pendleton gặp tôi và Điện. Sau những lời chào và những cái bắt tay cám ơn, Bác Sĩ H. Crawford nói rằng một tuần sau ông sẽ đến đưa tôi và Điện đi ăn và sẽ nói chuyện nhiều hơn. Bác Sĩ H. Crawford bắt tay mọi người, chào rồi trở về phòng mạch.
Vị tín đồ Tin Lành đề máy chiếc xe Station Wagon, rời khuôn viên trại 1. Chiếc Station Wagon chạy boong boong trên con đường nhựa, băng ngang qua khu đất trống rỗng, mà mấy tuần trước đầy dẫy những người trong căn lều của trại 8!
Chiếc xe vẫn chạy và vị tín đồ nói rằng: “Bốn tiếng đồng hồ sau chúng ta sẽ đến thành phố Thousand Oaks, California.”
Tôi nhìn qua cửa xe, bóng dáng của Phương qua ánh mắt và nụ cười của người em tôi chưa biết tên, và cảnh náo nhiệt của đoàn người tị nạn dường như vẫn còn đâu đó! Và tiếng ca Ngày Hạnh Phúc:
“Ngày em lo nương khoai, dưới mưa dầm anh lo cày cấy
Dù cho bao gian lao, nhưng tình nghèo góp sức mà vui
Cầu mong cho mai sau, gió đưa thuyền tình về bến mơ…”
mang tôi về một phương trời xa.
______________________
Đồng Sa Băng. 12-8-2009
Đồng Sa Băng
Dấu Chân Người Tị Nạn
Thousand Oak
C hiếc xe thùng (station wagon) trên con đường duy nhất đưa ra trại tị nạn Pendleton trưa ngày 16-10-1975. Hai bên đường là những ngọn đồi lòi còi, cây cối lưa thưa, và trùng trùng điệp điệp một màu vàng nhạt trải dài trên khắp cánh đồi. Trong chốc lát người tín đồ đã ra khỏi khu thung lũng, bắt vào Freeway 101 chạy về thành phố Thousand Oaks, California.
Xe chạy qua những nông trại rau quả ở miền Nam California. Trên những cánh đồng rau quả là hệ thống tưới nước được kéo (hay đẩy) bởi những chiếc xe nông cơ. Nhìn cánh đồng rộng bao la đang được tưới tự động, tôi lại nhớ đến những cánh đồng ở miền Trung Việt Nam. Nơi đó, hằng ngày những người nông dân lam lũ thui thủi dưới chiếc nón lá, lưng khòm kéo từng giọt nước dưới mương đổ lên ruộng bằng những cánh tay gầy, khô.
Tiết trời mùa Thu, gió lạnh. Hai bên đường những bông hoa đỏ hồng như hoa giấy chạy dài theo hai bên mặt lộ. Nhà và phố sá nối dài trên những con đường ngăn chia khu phố thành những ô vuông nho nhỏ. Những căn nhà đâu đít lại nhau, xây mặt ra mặt lộ và chạy tít lên tận chân đồi. Tôi ngồi trong xe dõi mắt nhìn theo những khu phố đang đua nhau lùi về phía sau; nhưng không thấy bóng dáng một con hẻm nào như những con hẻm ngoằn ngoèo, len lỏi giữa những khu lao động đông dân ở thành phố Sài Gòn!
Xe chạy xuyên qua thành phố Los Angeles. Có những khu nhà làm trên sườn đồi. Nhìn những căn nhà nằm cheo leo trên sườn núi, tôi lại nhớ về ngày xưa.
Quê tôi cũng nằm bên cạnh chân đồi. Từ ngôi làng nhìn ra trước mặt là một cánh đồng lúa, và tận cùng cánh đồng lúa là một ngọn đồi. Những buổi hoàng hôn đứng trên đỉnh đồi nhìn xuống làng mạc, khói bay ra từ nóc nhà như một bức tranh sơn thủy, đã làm mềm lòng Cha tôi. Ngày đó Cha tôi ước mơ được xây căn nhà trên sườn đồi Gò Đồn để hóng mát. Nhưng không được, không phải vì nguy hiểm do thú dữ cọp beo nơi rừng xanh, mà vì quê hương đang trong thời “nửa sáng nửa tối”, và hằng đêm những người bên kia kiểm soát khu rừng này. Sự hiện diện của những người bên kia đã mang lại sự bất an, và không bảo đảm tính mạng cho người dân sống trên những triền đồi ở miền quê. Nên ước mơ xây căn nhà trên sườn đồi của Cha tôi ngày ấy chỉ là một giấc mơ! Mà có mấy giấc mơ được thành sự thật!
Đang mơ màng về một vùng quê xa xăm thì người tín đồ chỉ tay về phía triền núi và nói:
“Nhìn kia, đó là bản hiệu của thành phố Hollywood.”
Tôi nhìn qua cửa xe, hàng chữ Hollywood rất to, màu trắng, được gắn lưng chừng trên triền núi.
Xe đang chạy qua trung tâm điện ảnh thế giới Hollywood.
Từ xa lộ nhìn vào thành phố Hollywood là những khu nhà khang trang, đẹp mắt. Ngày xưa tôi mường tượng trung tâm điện ảnh thế giới văn minh và hùng vĩ lắm. Nhưng hôm đó chạy qua thành phố Hollywood tôi cũng dững dưng, và trong tôi không còn cái ngạc nhiên của một người đến từ một thành phố đơn sơ. Có lẽ những tháng ngày buồn bả nổi trôi trên con đường tị nạn đã làm mờ những háo hức, nên những kiến trúc vĩ đại cũng không làm tôi nôn nao. Hay có lẽ người xưa đã chí lí khi nói: “Không có gì lạ dưới ánh mặt trời.”
Chiếc xe rời khỏi thành phố Los Angeles, chạy về miền Bắc.
Từ đây Freeway 101 rộng thênh thang (hệ thống xa lộ ở California gọi là Freeway vì trên những xa lộ này xe chạy không bị đóng tiền lộ phí). Và chiều cùng ngày 16-10-1975, chiếc station wagon đã đến thành phố Thousand Oaks. (Sau này, trong một buổi tiệc giữa những người di dân và người bản xứ, tôi được nghe người ta kể rằng thành phố này có hàng ngàn cây Oaks (cây sồi) nên đã được gọi là thành phố Thousand Oaks. Thì ra cách đặt tên ở Tây cũng như Đông, nhưng chắc ở đây không có bà già trầu nhai trầu bỏm bẻm.)
Thousand Oaks là một thành phố nhỏ, thưa dân. (Thời điểm 1975 dân số chừng 53,800 người. Năm nay, 2010, dân số Thousand Oaks phỏng chừng 129,000 người.) Nằm bên lề Freeway 101 của quận Ventura. Khi đến cực Bắc thành phố Thousand Oaks chiếc xe rẽ Freeway 101 bắt vào Lynn Road để đưa vào khu cộng đồng Newbury Park. Trong giây lát vị tín đồ Tin Lành đã đưa chúng tôi đến một căn nhà trên đường South Longford Avenue, căn nhà nhỏ nằm trong một xóm yên tịnh của Newbury Park.
Xe vừa đổ tôi bồi hồi bước xuống. Một người thiếu phụ đứng tuổi, vui tươi vồn vã, đến tận cửa xe chào đón chúng tôi. Bà vui mừng bắt tay và tự giới thiệu.
Với cử chỉ ân cần, niềm nở của bà đã xóa bớt đi những nỗi băng khoăn của tôi trên đường rời trại tị nạn sáng nay.
Chúng tôi ái náy bắt tay bà nói lời cám ơn. Bà nở nụ cười tươi, ôm chòang lấy tôi và Điện và bảo rằng từ đây hảy gọi bà là Valerie, Mrs. Valerie Smith. Trong vòng tay của bà tôi thấy ấm cúng, giống như một thứ tình cảm ấm áp của người mẹ, của người chị, và của gia đình dành cho người con, mà gần nửa năm nay tôi đã đánh mất. Nhìn sự bàng hoàng hiện rõ trên tôi và Điện, bà quay qua người tín đồ nói cười vui tươi những gì tôi không thể hiểu hết; người tín đồ đến nắm tay hai đứa chúng tôi, nói lời giả biệt rồi ra xe chạy đi.
Căn nhà ấm cúng có ba tần (three levels split) với bốn phòng ngủ, và đầy đủ những phòng căn bản. Một hồ bơi nhỏ nằm sau vườn, năm ba bụi cam trái sum sê và vài bụi chanh quanh vườn. Qua mỗi căn phòng, bà giới thiệu tên đứa con nào ở trong đó. Cuối cùng bà đưa tôi và Điện đến căn phòng nhỏ nằm ở tần dưới cùng, phòng của hai đứa chúng tôi.
Căn phòng có hai giường ngủ nhỏ, xếp thành hình L. Bà đã lo đầy đủ mền, ra, nệm tươm tất và nhẳn bóng như giường ngủ nơi khách sạn. Và đặc biệt, bà đã mang từ đâu bốn cái va-ly đời xưa, rắn chắc, màu vàng, để sẳn trong phòng cho hai đứa chúng tôi. Nhìn những chiếc va-ly tôi thắc mắc, một suy nghĩ thóang qua trong đầu: không lẽ mình sẽ đi chỗ nào khác nay mai sao? Nhưng rồi tôi xua đuổi những ý nghĩ mông lung đó đi.
Chỉ chỗ ở cho chúng tôi xong, bà xuống bếp lo bửa ăn.
Và trời đã xế chiều.
Khoảng ba giờ, những chiếc xe buýt màu vàng, giống như những chiếc xe buýt chở người tị nạn từ sân bay về trại những tháng trước, ngừng lại trước nhà và thả học trò xuống. (Sau này tôi biết đó là những chiếc xe chở học trò đi và về miễn phí, một điều mà ngày xưa ở Việt Nam tôi chưa hề biết, vì chưa hề có!) Tôi ngồi trên sân cỏ trước nhà, nhìn những đứa học trò nhỏ rời xe buýt chạy tung tăng trên đường. Trong đám trẻ con có hai đứa chạy thẳng vào nhà tôi mới đến. Thấy tôi, chúng khựng lại và nói: “Hi” rồi nhăn răng bỏ chạy vào nhà. Một giờ sau lại một chiếc xe buýt màu vàng dừng lại trước nhà. Những học sinh đệ nhị cấp, ăn mặc quần áo đủ màu sắc, không đồng phục, vai đeo túi sách lần lượt xuống xe. Một vài nữ sinh trò chuyện bên nhau và trong giây lát con đường South Longford im lìm, còn lại những chiếc lá rơi lả chả trên mặt đường, và một người học trò cao ráo lại bước vào nhà. Trong khuôn viên nhà bếp, bà Valerie lần lượt giới thiệu ba người con của bà cho tôi và Điện.
Bà Valerie chỉ có ba đứa con trai. Don là đứa bé nhỏ nhất, đang học lớp 7. Kế đến là Jack lớp 8 và Jim Jr. lớp 9.
Bà bày những dĩa đồ ăn cho chúng tôi và ba đứa con mới từ trường về. Bà nhìn tôi và Điện, nói:
“Nay các con đều là con của Má, từ đây các con gọi Má là Mom như các em con cho thân thiện.”
Xong bà chỉ vào chúng tôi và nói với các con bà:
“Đây là Van Nú-dình và Zim Nú-dình, hai người anh mới của các con.”
Tôi hơi ngượng vì bà bảo tôi phải gọi bà bằng Mom (trong đầu tôi nghĩ bà còn trẻ hơn người anh cả của tôi nhiều), nhưng vừa nghe “Mom” đọc tên tôi, tôi nhịn không nổi và quên luôn sự ngượng ngùng, cười sặc sụa và nói:
“Mom, tên con không phải là Nú-dình và tên anh ấy không phải là Zim”.
Bà đặt ly nước cam trước mặt tôi, cười và nói:
“Ừ, Mom biết, nhưng Mom không thể nói như con được. mỗi lần Mom nói thử thì lưỡi của Mom nó trẹo lại.”
Tôi nhìn bà, uống ly nước cam rồi cũng cười trừ. Don lấy làm khoái chí và nói:
“Tên của các anh ngộ quá.”
Từ đó Mom đã ngang nhiên biến tên tôi thành Nú-dình mà không cần một sự hợp thức hóa nào của tôi và chính quyền. Và cũng từ hôm đó Don với mái tóc dài màu hung như màu cỏ cháy, và khuôn mặt bầu bĩnh thường quấn quít bên tôi, như một đứa em dễ thương.
Chiều tối, khi đèn đường bừng sáng thì trong căn nhà chúng tôi mới đến lại xuất hiện người đàn ông. Khi cánh cửa mở ra, một người đàn ông với bộ y phục màu đen, trên cầu vai có ba gạch ngang màu vàng, bước vào nhà. Ông James Sr. Smith chồng bà. Chúng tôi chào và cung kính gọi ông là Mr. Smith. Nhưng ông mĩm cười chào lại, và bảo chúng tôi gọi ông là Jim. Sau bửa cơm tối, ông Smith nói rằng ông từng là một phi công bay trực thăng chiến đấu, đóng ở căn cứ Chu Lai, Đà Nẵng trong những năm 1969 - 1971. Ông đã giải ngũ khỏi Không Quân Hoa Kỳ và hiện là phi công dân sự cho hãng hàng không America Airline, lái Boeing 727 bay khắp nơi trên đất Mỹ.
Những ngày kế đó Mom thường đưa chúng tôi đi nhà thờ cùng gia đình. Và dường như mỗi buổi chiều, trong suốt thời gian hai tháng tôi và Điện ở đây, người mục sư mang tên Roland đều đến nhà để truyền đạo cho tôi và Điện. Tôi biết gia đình Điện ngày còn ở quê có liên hệ với hội nhà thờ Tin Lành, nhất là sau ngày tản cư ra tỉnh.
Nhưng tôi là người ngoại đạo...
Từ nhà bà Valerie đến nhà thờ đi bộ chưa được 10 phút nhưng cả nhà bà vẫn ngồi xe hơi mỗi lần đi. Con đường đến nhà thờ một bên là khu đất lớn trống rỗng, không ai canh tác gì trên đó ngoài việc để cho cỏ mọc. Nhưng ngay cả những ngọn cỏ hoang cũng được cắt ngắn sát mặt đất như tóc nhà binh. Thoạt đầu tôi nghĩ chắc nơi đây có nông trại nuôi bò nhiều lắm, nhưng nhìn mãi vẫn không thấy con bò nào trên cánh đồng.
Hôm đi nhà thờ đầu tiên, tôi không nhớ rõ ngày nào chỉ nhớ là một ngày cuối tuần, tôi và Điện được vị mục sư giới thiệu rất ân cần trong buổi lễ. Tan lễ, chúng tôi lưu lại trong sân để được bắt tay chào đón, một cử chỉ ấm cúng và đầy tình người, mặc dù với họ chúng tôi là những người xa lạ, xa lạ ngay cả đến cái tên gọi! Trên sân giáo đường không có tà áo dài bay phất phới trong gió với hình ảnh những người thiếu nữ nắm tay nhau rời giáo đường như những lần tôi thấy trên quê hương Việt Nam. Nhưng lòng tôi vẫn thấy xao xuyến.
Một tuần lễ sau, mỗi lần đi nhà thờ tôi nói với Mom là tôi muốn dẫn Don đi bộ đến nhà thờ và khi tan lễ tôi muốn bách bộ về nhà hơn là ngồi trên xe. Có những hôm tôi lang thang trên cánh đồng cỏ hằng giờ nô đùa với Don.
Thời gian trôi qua tôi thấy buồn, nhớ. Tôi rời nhà, dạo chơi trong xóm nhưng một điều làm tôi luôn thắc mắc là, sao không thấy ai đi bộ và dạo chơi ngoài đường! Nơi đây nhà cửa và dân cư còn đông hơn nơi tôi ở ngày xưa, nhưng sao không thấy người đi bộ? Sự vắng lặng làm tôi nhớ Sài Gòn đến điên dại. Nhớ bóng người đi, nhớ tiếng nói, nhớ sự ồn ào, nhớ gia đình. Đêm về, với chiếc máy cassette cũ rích và băng nhạc duy nhất tôi nghe đi nghe lại nhão như cháo, tiếng hát Thanh Thúy cứ văng vẳng: “Tôi vượt đường xa xôi tìm em đã khắp nơi….” mà “Đường phố muôn màu sao thiếu em, về đâu làn tóc xõa bên rèm, lầu vắng không người song khép kín, nhớ em tôi gọi tên, chỉ nghe tiếng lá rơithềm.” Hay là em đã “Mong đợi từ bao lâu giờ anh chết nơi đâu…”
Chỉ được thêm cái buồn.
Mỗi buổi sáng nhìn xe học trò đến đón những đứa em đi học, tôi thấy lòng rạo rực. Trước khi rời trại tị nạn Pendleton, tôi và Điện đã được Pepperdine University chấp nhận. Nhưng vì xuất trại sau ngày trường nhập học khóa mới một tháng, nên, chúng tôi phải ngồi chờ khóa kế, nghĩa là phải đợi đến hai tháng nữa.
Tôi, cũng như bao nhiêu người tị nạn khác, đến đây với bàn tay trắng. Không tiền không bạc không thân tích, tứ cố vô phương. Chúng tôi tuy khác hoàng cảnh gia đình nhưng lại có nhiều mẫu số chung trên miền đất hứa này. Cơm - áo - gạo - tiền và tương lai trước mặt là một thử thách lớn cho mỗi cá nhân. Bao nhiêu nỗi băng khoăng của người chịu sự giúp đở từ kẻ khác, nhiều đêm tôi cũng thao thức. Có lẽ nhìn được sự lo lắng cho một tương lai và nỗi buồn xa xứ qua những buổi chiều ngồi trầm ngâm trước sân cỏ, một tuần sau Mom đã nói với tôi và Điện:
“Ngày mai Mom sẽ đưa hai đứa đến một nhà thờ kia để gặp nhiều người mà Mom biết chắc hai đứa sẽ vui lắm. Và sau đó chúng ta sẽ đến gặp ông chủ nhà hàng Mễ Tây Cơ ở Thousand Oaks.”
Ngày tàn cuộc chiến tôi rời xa quê hương nửa vòng trái đất. Cuối cùng tôi tị nạn trong một gia đình, mà chủ nhà đã từng sống bên cạnh đồng đội ở Việt Nam, lăn lộn và chiến đấu chống Cọng trên quê hương tôi! Có những lúc chúng tôi chia sẻ những nỗi buồn chiến tranh. Và hằng tuần tôi đến giáo đường. Giáo hội này có hằng trăm giáo dân, nhưng họ quyết định để papa Smith cưu mang tôi, chắc không phải chỉ là một điều ngẫu nhiên. Có đêm cụm từ chiến tranh và hòa bình cứ lảng vảng trong tôi, và có đêm tôi nằm mơ đang nô đùa chạy chụp banh cà-na với hai em Jim Jr. và Jack trong một trận banh mà trọng tài là papa Smith.
Ngày mai, ngày bắt đầu Chiến Dịch Đời Sống Mới!
______________________
Đồng Sa Băng. 20/1/2010.