Tủ Sách Việt Văn

Phần 1

Hải Hồ.

Hải đảo xa xôi.

MỤC LỤC.

Hải đảo xa xôi.

Bí mật đêm giao thừa.

Chú bé sợ toán.

Tớ giống ông tớ.

Bóng Út Xanh Xanh 1.

Bóng Út Xanh 2.

Bóng Út Xanh 3.

Út xanh 4.

Út Xanh 5.

Tớ giống ông tớ.

Chuyện Chú Trống Choai.

Chuyện Chú Trống Choai 2.

Chuyện Chú Trống Choai.

Chuyện Chú Trống Choai.

Chuyện Chú Trống Choai 5.

Chuyện chú Trống Choai 6.

Chuyện Chú Trống Choai.

Chuyện Chú Trống Choai 8.

Chuyện Chú Trống Choai.

Chuyện Chú Trống Choai.

Hải đảo xa xôi.

Ở một căn nhà nhỏ miền quê xa, sáng sáng mẹ đi chợ vắng, em gái nhỏ thơ thẩn chơi quanh nhà với bà. Bà già lắm, tóc bạc trắng và mắt kém, bà phải vừa nhìn vừa sờ tay mới thấy. Bà thương yêu em gái lắm, chẳng muốn rời một bước. Em gái nhỏ chỉ chơi ra khỏi vườn một tí thôi là bà đã gọi: "Ới Nụ! Nụ ơi! Cái Nụ của bà đâu rồi?" Em gái nhỏ quả như một cái nụ hoa xinh đẹp của bà thật. Môi em đỏ mọng, má trắng mịn thoảng phớt hồng như quả đào sắp chín, mái tóc mềm gió thổi nhẹ một chút cũng bay bay. Những lúc vắng vẻ chỉ có hai bà cháu ở nhà, bà hay kể chuyện "Ngày xưa" cho cái Nụ nghe. Nhiều chuyện "Ngày xưa" lắm! Cái Nụ chẳng nhớ hết: Chuyện ngày xưa có thằng bé Cuội chăn trâu. Ngày xưa có ông Bụt giả vờ ăn mày; rồi ngày xưa có con chó đá... Chuyện nào cái Nụ cũng thích. Có hôm bà kể cả chuyện "Ngày xưa bà đi ở khổ lắm..." Chuyện ấy thì buồn buồn, bà hay chảy nước mắt. Thương bà quá! Thường kể hết một chuyện bà hay ôm lấy cái Nụ, tay bà gầy gầy sờ sẫm lên chỏm tóc Nụ mà hỏi:
-Cái Nụ cháu ai?
-Cháu bà.
Thế rồi bà cứ êm ái hỏi tiếp, cháu lại thỏ thẻ trả lời những câu mà cả hai bà cháu đã thuộc làu trong bụng. Như là:
-Nụ bà con ai?
-Con mẹ con cha.
-Mẹ đâu?
-Mẹ đi chợ vắng.
-Cha đâu?
-Cha đi bộ đội, hòa bình.
Bà bằng lòng lắm. Ừ! ừ! Cha Nụ đi bộ đội giữ hòa bình.
-"Hòa bình, mẹ cấy lúa xanh..." Cứ hai chữ một, giọng nỉ non bà dạy tiếp:
"Cha đi... bộ đội... thức canh... đất trời..." Khi bà cháu thủ thỉ trước thềm nhà như thế thì ở tít ngọn tre vồng có con chích chòe đậu. Gió đung đưa, con chích chòe hót réo rắt, nó lại rung cánh nhìn xuống hai bà cháu kêu:
-Chuých! Tu chuých! Chòe chòe!
Bà bảo với Nụ rằng:
-Nó nói: "Tao thích! Tao thích múa xòe!"
Thế là cái Nụ đứng dậy bắt chước các bạn múa tay quanh bà cho chim xem. Bà khen, bà cười móm mém. Chim khen, chim hót thánh thót. Đây là những sớm mai nhẹ nhàng trong sáng của hai bà cháu. Gió đã đổi mùa, hơi se lạnh, cái lạnh ngòn ngọt đầu thu. Nắng vàng dịu đi, thếp vàng trên cây, trên lá, trên cả mình chú chích chòe hay hót. Sương cũng óng ánh giống những hạt ngọc tí xíu xinh xinh.
Cảnh và người êm ả tươi mát như tranh. Tranh hòa bình của quê hương em gái nhỏ, có bà kể chuyện "Ngày xưa", có mẹ sớm hôm làm đồng hợp tác, có cha đi bộ đội, giữ hòa bình. Cha ở xa, xa lắm, em gái nhỏ không thể biết được. Nơi ấy cha em và những chiến sĩ đồng đội tháng ngày vật lộn với sóng dữ biển khơi, da sạm đi vì nhuộm nắng trời và biển mặn. Một hôm từ nơi xa xa ấy người cha gửi về cho em gái nhỏ một gói quà. Ạ này! Thích chưa! Đôi mắt tròn đen của em mở to long lanh. Những thứ này ở quê chẳng hề thấy bao giờ cả. Đấy là những con ốc kỳ lạ. Con thì tròn xoe, trắng muốt lại điểm lấm tấm đỏ đỏ xanh xanh. Con thì dài dài mà đầu nhọn hoắt. Này những vỏ con trai, con hến trắng tinh, kẻ vân, kẻ vi. Có cái mỏng mảnh tròn tròn như một cái quạt tí hon, soi lên nắng nhấp nháy có màu ngũ sắc. Lại những hòn đá cuội màu xanh cũng có, màu đỏ cũng có mà trắng muốt cũng có. Hòn tròn như cái cánh chim, hòn lại vuông vắn bốn góc, có hòn thì dẹt như chiếc mâm tí xíu. Thế này mà chơi bày cỗ thì thích biết mấy. Còn bông hoa đá nữa kia. Hoa gì mà xù xì, lại cứng thế nhỉ? Hoa này thì chẳng bao giờ héo rụng, tha hồ mà chơi rước kiệu. Mẹ đan ngay cho Nụ chiếc giỏ tre con. Bỏ ốc và đá cuội vào giỏ xách tung tăng. Chỉ khẽ lắc lắc nó kêu lóc xóc đến vui. Bà cũng khen đẹp, mẹ cũng khen đẹp, con chim chích chòe cũng ríu rít như thèm như ghen. Sao nơi cha ở đấy cũng đẹp hơn con chim vẫn đậu trên ngọn tre trước ngõ kia thôi. Nơi ấy là đâu thế nhỉ? Mẹ đọc thư cha gửi về nói cha đóng quân ở ngoài hải đảo. Ái! Hải đảo! Cha ở hải đảo! Cái tên buồn cười nhỉ! Hải đảo là đâu mà nhiều thứ đẹp như thế! Hỏi bà, bà cũng không biết. Bà chỉ bảo hải đảo là ở ngoài biển khơi. Bà kể biển có nhiều nước lắm, nước xanh và nhiều như trời xanh trên đầu hai bà cháu. Nhiều đến nỗi cứ nhìn xa mãi thì thấy trời và nước chập vào với nhau. Ờ! Thế thì cha ở xa lắm! Ngồi xếp những con ốc xinh xinh, hòn cuội tròn tròn vào lòng bàn tay bà, em gái nhỏ còn hình dung ra vô khối những thứ xinh đẹp khác mà chắc ngoài nơi hải đảo lạ lùng cha ở có nhiều lắm. Em thốt lên ao ước:
-Bà ơi! Bà cháu ta mà được ra xem thì sung sướng quá bà nhỉ?
Biết bao ý nghĩ đẹp đẽ về hải đảo nảy nở trong trí óc của em gái nhỏ.
* * *
Ngay tối hôm ấy, một câu chuyện kỳ diệu về hải đảo của cha em đã đến trong giấc mơ em gái nhỏ. Một giấc mơ thật đẹp đẽ. Này đây! Con chim chích chòe ban sáng bỗng dưng tới đậu bên em. Nó hót ríu rít và khoe với em gái:
-Cô Nụ ơi! Chim có đẹp không? -Đẹp lắm! Chim đẹp hơn ban sáng nhiều. Mỏ chim đỏ và cánh chim biếc xanh thế kia. Con chim hót lên vui sướng và nó lại mách:
-Cô Nụ ơi! Chim đẹp vì chim đã bay qua biển xanh, bay đến hót ở hải đảo. Ở đấy có cha cô Nụ.
-Thật thế ư chim?
Em gái nhỏ vui sướng reo lên:
-Chim kể đi nào. Hải đảo làm cho chim đẹp thế kia ư?
Chim rung đuôi, vẫy cánh, chim nhảy tót vào lòng bàn tay xinh em bé rồi chim thánh thót kể:
-Hải đảo đẹp! Đẹp lắm cô bé ạ! Đấy là một hòn núi đá ngũ sắc long lanh nổi lên giữa biển cả. Khi ửng nắng và những tối có trăng, từ xa trông hòn núi ấy trong suốt như ngọc. Trên núi có vô khối là của quý. Nào hoa quả muôn màu thơm ngào thơm ngạt. Nào lụa hoa để may áo mặc vừa đẹp vừa xinh. Đồ chơi thì vô khối, còn đẹp gấp mấy mươi cái giỏ ốc với đá cuội của cô Nụ nữa kia!
Em gái mê say nghe, em nghĩ thầm:
-Chao! Em mà ra được ngoài ấy em sẽ hái một bông hoa rõ đẹp cài lên tóc. Sẽ bứt một quả cam thật ngọt đem về bà bổ cho ăn. Sẽ lấy một tấm lụa nhiều hoa nhất đem về mẹ may áo đẹp đến Tết mà mặc. Em sẽ rủ cha cùng về quê thăm bà, thăm mẹ. Chao ôi! Hẳn là bà và mẹ thấy hai cha con về thì vui biết mấy. Nghĩ rồi em bé hỏi chim:
-Này bạn chim ơi: "Cha làm gì ở ngoài ấy thế? Chắc cha cũng đẹp lắm phải không chim? Cha nhớ Nụ lắm đấy nhỉ?"
-Đẹp lắm cô Nụ ạ! ở đấy cha của Nụ có đôi mắt sáng như hai chấm sao, đêm đêm cha dõi nhìn ra biển rộng. Những con cu, con vọ lén lút trong tối thẳm đều lẩn trốn bỏ chạy. Ở đấy cha của Nụ có hai cánh tay khỏe và to lắm. Cánh tay dang rộng ra chắn giữ những cồn sóng bể lưỡi dài hay giận dữ cứ đòi chồm lên chực nuốt cả đảo đi. Chính mặt trời cũng say mê cha cô, sáng sáng trước tiên mặt trời đến đảo chào nụ cười của cha cô sớm nhất rồi mặt trời mới đi về các ngả. Ở đấy muôn ngàn loài chim đẹp chúng tôi bay về làm tổ trên đỉnh núi và suốt ngày hót lên bài hát hay nhất của loài chim tự do: bài ca "Vinh quang trên đôi cánh". Cha cô cũng thuộc bài ca đó và lúc hát hai cánh tay cha cô múa lên xòe rộng như đôi cánh chim. Đẹp! Đẹp lắm kia! Em gái thốt reo lên thèm muốn: "Nụ muốn đến với cha Nụ quá! Có xa lắm không chim ơi?"
-Xa lắm! Cô Nụ ạ! Phải đi đến bờ biển xanh, đi theo con đường mà cha Nụ đã đi có mưa, có gió. Rồi qua giữa biển cả mới tới hải đảo!
Mắt em gái nhỏ đã dấp dính nước mắt, em lo lắng:
-Làm thế nào mà em đi tới được đấy?
Bỗng nhiên từ trong giỏ tre có tiếng những con ốc tròn xinh xinh gọi:
-Cô Nụ ơi! Cô hãy chịu khó đưa chúng em ra bờ biển. Gặp biển xanh chúng em sẽ thành chiếc thuyền đẹp chở cô gái bé nhỏ của chúng em tới đảo bình yên. Cô bằng lòng chứ? Con trai bé xinh như cái quạt tí hon cũng thủ thỉ:
-Chị ốc làm thuyền. Còn em, em sẽ xòe rộng như một cánh buồm trắng đón gió biển đưa chị đi thật nhanh trên sóng. Chị bằng lòng chứ?
Chim xòe cánh vui mừng nhảy nhót đậu lên quai giỏ:
-Thế thì vui quá! Chim sẽ bay dẫn đường ra tới bờ biển. Cũng xa đấy! Cô Nụ phải đi đến rõ mỏi chân mới tới, đi như cha cô đã đi. Nhưng không sao. Chim sẽ hát cho Nụ vui tai quên hết vất vả mệt nhọc, Nụ bằng lòng chứ?
Em gái nhỏ sung sướng, má em đỏ hồng lên, em đứng dậy quả quyết:
-Cám ơn các bạn! Thế thì chúng ta đi ngay thôi. Mệt nhọc mấy Nụ cũng đi! Nụ chẳng sợ đường xa.
Nhưng kìa, những chú đá cuội đã nhảy tót ra khỏi giỏ tre:
-Hỡi cô gái dũng cảm. Chớ lo, con đường có mưa, có gió, con đường gồ ghề cha cô đi qua đã san bằng cho cô rồi. Cô hãy buộc chúng tôi vào dưới bàn chân xinh đẹp kia đi. Chúng tôi sẽ biến thành những bánh xe nhỏ đi nhanh như bay và không hề vấp ngã bao giờ cả. Cô bằng lòng chứ?
Em gái nhỏ chập hai tay vào ngực cảm động:
-Ôi chao! Thế thì sướng quá.
Em với thúng quần áo của mẹ lấy dây vải đỏ buộc những hòn cuội nhỏ vào chân. Em xách giỏ đồ chơi mạnh dạn bước ra khỏi cửa. này lạ chưa! Sao em đi nhẹ nhàng như lướt trên mặt cỏ. Nhanh quá. Gió hát ù ù bên tai, gió thổi bay mái tóc mềm mại của em. Mát quá! Trước mặt em nắng sáng tưng bừng trời xanh. Một loáng em gái nhỏ đã vượt khỏi cánh đồng lúa thu của quê hương em. Tre xanh và đồng lúa dạt dào vẫy chào tiễn biệt. Bướm trắng và chuồn chuồn đỏ bay theo tiễn chân rõ xa mới thôi. Em phải đi qua nhiều làng mạc xa lạ, nhiều cánh đồng bát ngát, qua những dãy đồi cỏ mượt như nhung nối tiếp nhau và qua cả những khu rừng xanh thăm thẳm. Kìa, bờ biển xanh đã ngay trước mặt rồi. Em gái nhỏ dừng chân trên bãi cát trắng mịn. Rặng thông già phía sau lưng em là biển cả mênh mông, biển rộng quá, xanh quá, y như bà đã kể với em. Em chỉ thấy trời và nước, nước không nằm im như trời. Nước như nổi sóng xô nhau vào bờ ăn cát và muốn xô dần đến cả chân em như chực nuốt em đi. Chim liệng quanh một vòng đậu trên vai em và giục:
-Nào cô Nụ! Hãy thả ốc và trai xuống nước biển đi. Thả nhanh lên thôi!
Em gái nhỏ vừa cúi xuống thì bỗng dưng có tiếng hát réo rắt vẳng đến, gió không thổi nữa và sóng cũng tan dần đi, biển xanh bằng lặng như một tấm gương lớn trong suốt. Trước mặt em từ ngoài xa xuất hiện những nàng tiên xinh đẹp kỳ lạ. Họ bay nhanh đến quanh em gái nhỏ. Những tà áo lụa đủ màu quấn lấy em. Nàng tiên lớn nhất bế bổng em gái nhỏ lên và bảo:
-Em Nụ ơi! Em muốn ra hải đảo đấy ư?
-Vâng! Em ra với cha em. Chim bảo cha ở ngoài ấy, đẹp lắm!
-Phải! Cha em ở ngoài ấy. Ngoài hải đảo xa tít kia kìa.
Em gái nhỏ ngửng nhìn theo tay trỏ và em thấy giữa biển nổi lên một hòn núi óng ánh.
-Em gái nhỏ ơi! Em muốn ra đảo để làm gì cơ chứ?
Em gái ngoan ngoãn trả lời như em đã nói với chim:
-Em bảo cha em hái cho một bông hoa rõ đẹp gài lên tóc. Sẽ bứt một quả cam thật ngọt đem về bà bổ cho ăn, sẽ lấy một tấm lụa nhiều hoa nhất đem về mẹ may áo đẹp cho em mặc.
Những nàng tiên cười rộ lên. Nàng tiên lớn nhất chỉ các nàng tiên khác bảo:
-Này! Em gái nhỏ! Thế thì các chị là những nàng tiên "Mùa xuân" đây!
Và nàng nói.
-Em có biết cha em đã làm gì ở ngoài đó không? Em nói cho chị nghe thử nào. Em gái nhỏ ấp đầu vào ngực nàng tiên thủ thỉ:
-Em biết ạ! Cha em có đôi mắt sáng săn đuổi những con cú, con dơi trong tối. Cha em lấy tay chặn hết sóng dữ ngoài bể rồi cha em cùng chim múa hát. Chim nói cho em biết thế đấy cô tiên ạ!
Nàng tiên xoa lên mái tóc mềm mại của em khen:
-Em gái bé nhỏ ơi! Em thật là thông minh và ngoan ngoãn. Chúng ta sẽ đưa em tới gặp cha em ngoài hải đảo đẹp đẽ mà em hằng mơ ước. Em hãy nghe ta kể đây: ở ngoài đó cha em đã ngày đêm vất vả để trồng một thứ cây có nhiều hoa thơm và nặng đầy trái ngọt. Cây đó là cây "Hạnh phúc" đấy em ạ! Nhưng cha em phải chăm bón vất vả lắm. Cha em đã phải trồng cây trên đỉnh núi cao chót vót, phải hứng nắng trời tưới cho hoa cây thắm đẹp. Hôm nay ngoài hải đảo chim muông, ong bướm đang mở hội hót mừng công việc của cha em. Em xứng đáng được ta đưa tới đó.
Em gái nhỏ nhoẻn cười hỏi thơ ngây:
-Có vui như Tết không ạ?
-Vui hơn chứ. Chính ở đấy cha em làm ra Tết cho em và quê em đấy.
Nói rồi nàng tiên lớn khoát tay vẫy các nàng tiên xung quanh:
-Nào! Chúng ta hãy kết vòng lụa đào đưa cô em gái bé nhỏ ra gặp người cha "Vinh quang" mà em yêu quý chờ mong từ lâu.
Khi những nàng tiên tung vạt áo lụa lên đỡ lấy em gái nhỏ thì bỗng dưng nắng trời dịu đi và mây hồng tụ lại quanh em. Em gái nhỏ ôm chiếc võng tre vào lòng và những nàng tiên nâng nhẹ chiếc giỏ lụa bay lên cao, cao mãi và hướng ra ngoài biển cả mênh mông. Chim lượn vòng trên đầu em và bắt đầu hót bài ca "Vinh quang trên đôi cánh". Ngồi trong chiếc võng đẹp, lòng em bé mát rượi, mái tóc em lại bay bay, em nghĩ đến cha đang chờ em bên cây "Hạnh phúc". Hôm về em sẽ kể cho bà nghe cuộc đi chơi vui thích này. Chuyện của em kể chắc vui thích như những chuyện "Ngày xưa" của bà nhưng nhất định không buồn như câu chuyện "Ngày xưa bà đi ở..." Em bé sung sướng như thấy mình bay cao, bay bổng mãi... Lúc đó chính vào độ nửa đêm, gió ngoài vườn cây thổi mạnh. Người mẹ tỉnh giấc chạy ra khép cửa quanh nhà cho gió lạnh khỏi lùa vào. Khi soi đèn bên màn bà mẹ nhìn thấy đứa con gái nhỏ yêu quý của mình đang ngủ thiêm thiếp, ngon lành, nụ cười tươi tắn khẽ máy động. Người mẹ sung sướng khẽ ôm lấy con và đặt chiếc hôn thật dịu trên má. Bà mẹ sẽ ru câu ru quen thuộc: Hòa bình, mẹ cấy lúa xanh Cha đi bộ đội thức canh đất trời.
Lời ru nhẹ nhàng bay bổng, bay thật xa xa tít mãi. Cùng lúc ấy ngoài tít xa cái quê hương êm đẹp ấy, bão biển vẫn nổi giận quanh những hải đảo chênh vênh. Ngọn đèn biển chập chờn quay quay lóe sáng. Nhưng trong gió bão ấy, từ hải đảo tiến ra khơi, tàu đi tuần vẫn chồm lên mặt sóng dữ mà xuyên vào đêm tối mù mịt. Đấy là công việc nặng nề và vinh dự nhất mà đất nước đã giao cho những chiến sĩ hải đảo. Họ lùng săn bọn biệt kích, lũ cướp biển với ý thức cảnh giác cao, tinh thần chiến đấu dũng cảm. Trong đội ngũ chiến đấu đó có người cha của em gái nhỏ. Người cha to lớn có đôi tay rắn chắc, có màu da xạm cháy vì nắng trời và biển mặn. Sóng gió vẫn bao bổ gầm thét quanh mình người cha. Biển vẫn mênh mông dữ dội. Tiếng ru của người mẹ vẫn hòa bay trong khoảng không bao la. Khi gió bốc lên từng không cao vút thì gió rời sóng rời biển cứ dịu nhẹ dần trong giọng ru êm ái. Khi gió về tới khu vườn quê hương em gái và lẻn nhẹ vào nhà thì chỉ còn như tơ phảng phất rất nhẹ mơn man trên đôi má trắng mịn của em gái nhỏ đang mơ. Giấc mơ kỳ diệu ấy vẫn giữ vẹn và tiếp diễn êm ái lạ lùng!
1960

Hải Hồ

Hải đảo xa xôi

Bí mật đêm giao thừa

Sáng ngày 28 Tết có bức thư của bố từ biên giới gửi về. Bố gửi tay một người bạn đi công tác ghé qua nhà. Thế là thêm một năm nữa bố không về ăn Tết với gia đình. Bố chúc ba mẹ con khỏe, rất khỏe để đón mừng Xuân mới. Không khí lúc đọc thư rộn hẳn lên vì ngoài lá thư tay ngắn ít dòng, còn một phong bì dày dán kín đề nắn nót: "Đúng giao thừa mới bóc ra xem!". Trong lá thư tay bố lại dặn: "Bố giao cho Tuấn, đứa con trai kiên nghị của bố giữ phong thư bí mật, đến giao thừa mới đưa mẹ mở. Đây cũng là mệnh lệnh quân sự của đại úy Lê Minh từ biên giới giao nhiệm vụ cho chiến sĩ Lê Tuấn thân yêu". Tuấn ta thích quá, giữ rịt lấy phong thư reo:
-A ha! Bố giao cho con đấy nhá!
Bé Thư quầy quậy chẳng chịu:
-Của em nữa chứ! Giả em đây nào... nào.
-Đừng hòng
Tuấn nhíu mũi
-Bố có giao cho mày không. Đây mới là chiến sĩ Lê Tuấn, hiểu chưa?
Một tay chỉ vào ngực, tay kia giơ cao phong thư, nó lùi xa em gái. Cái Thư mếu luôn:
-Giả thư của bố đây. Không chơi với anh Tuấn nữa... nào... nào.
-Hay khóc nhè thế mà đòi giữ thư. Đồ con gái.
Mẹ vội dỗ Tuấn:
-Thì con cho em cầm em xem một tí đã nào. Xem chứ có bóc đâu. Mà cả mẹ cũng muốn xem cơ mà.
-Để mẹ bóc luôn ra mất thì sao?
Mẹ lắc đầu:
-Không! Mẹ cũng phải phục tùng lệnh của đồng chí đại úy Lê Minh chứ. Mới lại mẹ thừa biết bố con gửi gì rồi, thư có ảnh bố chứ gì?
Tuấn nắn nắn phong thư rồi giơ lên nheo nheo mắt. Nó hỏi:
-Sao mẹ biết? -Ảnh bố chụp cầm súng đứng ở đỉnh núi biên giới đấy mà.
Tuấn bước lại đưa phong thư cho mẹ và em gái xem, nó nói:
-Bố đứng tít trên đỉnh núi hả mẹ?
Mẹ cười:
-Ờ! Tít trên núi cao.
Cái Thư thì lại hỏi:
-Không có kẹo à mẹ? -Không biết thì thôi. Thư mà lại để được kẹo.
Tuấn chế em gái. Người mẹ bật cười vuốt má con.
-Biên giới chỉ toàn là rừng với núi đồi thôi. Đào đâu ra kẹo mà bố gửi hả con.
-Nào, xem xong chưa, để anh còn cất đi. Bố ra mệnh lệnh cho anh rồi đấy, mãi tận giao thừa cơ!
Bé Thư hỏi mẹ:
-Bao giờ thì giao thừa, mẹ?
-À! Hai ngày nữa, đến ngày kia. Con cứ để anh Tuấn giữ. Vài hôm thôi mà. Thằng anh ra vẻ hiểu biết, nó giảng thêm cho đứa em:
-Tối, "dưng" mà mãi tận khuya. Khuya tận nửa đêm mới đến giao thừa cơ. Mẹ nhỉ?
-Ừ! Nửa đêm.
-Thế thì em Thư ngủ khì. Ngủ là anh mặc kệ đấy. Giao thừa cứ bóc thư bố đấy.
-Ứ!
Cái Thư vênh mặt.
-Em cũng thức đến giao thừa, buồn ngủ em cũng không ngủ cho mà xem.
Mẹ choàng hai tay vào hai đứa con, mẹ sợ chúng lại sắp cãi cọ, giọng mẹ vui vẻ:
-Yên trí! Bố dặn mẹ bóc thư cho cả nhà xem kia mà. Ba mẹ con cùng thức. Đến giao thừa mới khám phá trong phong thư của bố để đón chào năm mới.
* * *
Bao giờ cũng vậy, những ngày giáp Tết vút nối nhau như bay theo đôi cánh kỳ diệu, khiến mọi người bấn vội tíu tít lạ. Hai ngày vèo qua nhanh chóng. Người mẹ xoay xở tít mù với công việc sắm sửa chợ búa. Tiếng pháo lẻ, những quả bóng bay và lũ trẻ bạn bè hấp dẫn anh em Tuấn khiến ban ngày chúng nhãng quên phong thư bí mật. Chỉ tối đến chúng mới đem ra sờ sờ nắn nắn và mong mỏi với nhau cái giây phút được thấy rõ điều bí mật của bố. Rồi tối 30 Tết xịch đến! Đêm khuya dần. Mẹ bận bịu với nồi chè kho, nửa lo nhão, nửa sợ khê. Cái Thư không thức nổi đã ngủ khì. Chỉ có cu Tuấn, có lúc đã gà gật ở bàn nước với phong thư trong tay. Choàng tỉnh, nó đi vòng quanh trong nhà rồi đòi quấy chè kho với mẹ. Tuấn nhất quyết thức đến giao thừa chứ không như năm ngoái mẹ phải gọi dậy để đốt pháo mừng năm mới. Nó nghĩ: "Bố bảo mình là chiến sĩ Lê Tuấn kia mà. Chiến sĩ thì không thể ngủ trước giao thừa như cái Thư. Đến giao thừa giao phong thư cho mẹ bóc mình mới hết nhiệm vụ mà. Chiến sĩ là bộ đội, mà bộ đội lại ngủ quên thì bét quá!" Kìa! Còi thành phố ú vang. Chuông nhà thờ lảnh lót và pháo. Tiếng pháo tưng bừng râm ran nổ rộ khắp xa gần. Pháo nhà Tuấn cũng reo vang. Giao thừa đến! Hương sắc đất trời năm mới lan tỏa vào gian phòng ấm áp của ba mẹ con. Gian phòng nhỏ nồng nàn khói pháo, ngây ngất hương trầm, quấn quáện mùi vị dịu ngọt của mâm ngũ quả. Ba mẹ con ngồi bên bàn. Cái Thư tỉnh như sáo nhưng vẫn đòi ngồi lòng mẹ như năm cũ. Tuấn sát gần mẹ. Người mẹ dịu dàng:
-Nào! Tuấn đưa phong thư cho mẹ nào!
Người mẹ sửng sốt khi đứa con trai vụt đứng dậy, nhưng rồi chợt hiểu vì Tuấn đã đứng nghiêm cất giọng rất dõng dạc:
-Mệnh lệnh của đại úy Lê Minh. Chiến sĩ Lê Tuấn đã hoàn thành đến đúng giao thừa. Xin giao phong thư cho mẹ. Báo cáo hết!
Thằng bé giao thư rồi lại ưỡn ngực giơ tay chào. Bé Thư thích chí vỗ tay reo:
-Hoan hô! Anh Tuấn giống bộ đội ghê.
Người mẹ trẻ đón lấy phong thư, bỗng nhiên mắt mẹ ươn ướt rồi có giọt nước mắt đọng trên má. Cả hai đứa trẻ đều ngỡ ngàng. Chúng nắm vai mẹ cùng nói:
-Kìa! Mẹ khóc đấy à?
Mẹ chùi vội mắt nhoẻn cười:
-Mẹ mừng. Mẹ khóc vui đấy các con ạ! Nào, chúng ta bóc thư nhé.
Tay bóc, lòng người mẹ nghĩ: "Đúng là anh sợ ba mẹ con em buồn vì vắng anh. Anh muốn ba mẹ con vui với giao thừa, vui với xuân nên anh nghĩ ra trò vui này đây. Cảm ơn anh!" Phong bì đã mở. Ngoài bức thư có lời chúc của người chiến sĩ biên giới còn có ba món quà tuyệt diệu. Đúng như người vợ đoán. Có một bức ảnh nhưng không phải bố của Tuấn và Thư đứng trên đỉnh núi một mình mà cùng đứng với những người đồng đội trên sườn đồi tràn trề ánh nắng. Phía sau ghi "Tặng em và hai con bức ảnh anh chụp với một trung đội đang giữ điểm cao. Sau lưng anh là phía bọn nó đấy!" Món quà thứ hai là một con bướm rừng sặc sỡ ép khô. Bố dặn "Tặng Tuấn con bướm ở vùng rừng bố ở. Chúc con sang năm mới học khá hơn môn sinh vật, vì con vẫn bảo không thích môn này cứ phải mổ ếch, mổ cá, cả giun nữa..." Còn hai bông hoa mỏng mảnh giống hoa đào nhưng màu tim tím được ép rất khéo thì bông to tặng mẹ, bông bé tặng Thư với lời chúc thật vui: "Em thì trẻ mãi mà con gái của bố lớn nhanh để giống mẹ nhiều...". Vừa xem xong thư và quà, bé Thư nói luôn:
-Thế mà mẹ bảo trên chỗ bố ở chả có gì, chỉ rừng, chỉ núi...
-Ấy! Mẹ nhầm!
Người mẹ mau mắn thú nhận với cặp mắt long lanh tràn ngập niềm vui. Con bướm vàng sặc sỡ được gài ngay vào cành dào nhỏ. Cả hai bông hoa mỏng mảnh phớt màu tim tím mẹ cũng không gài lên tóc mẹ và tóc con gái như lời bố dặn. Mẹ đính cả vào cành đào nom như nó vừa nở hai bông hoa mới nhất, ngồ ngộ. Ba mẹ con vừa nếm chè kho vừa ngắm tặng vật của bố. Mẹ lại đọc kỹ thư một lần nữa cho cả Tuấn và Thư nghe. Giọng mẹ thật dịu mà lời thư của bố mới vui làm sao. Vừa nghe Tuấn vừa thầm nghĩ riêng:
-Sáng mai mình viết ngay thư chúc Tết bố. Cơ mà trước hết mình phải báo cáo hẳn hoi đã: "Báo cáo đại úy, tôi chiến sĩ Lê Tuấn đã hoàn thành nhiệm vụ đúng giao thừa! Thế... mình sẽ viết như thế ở đầu thư mới được!".
Xuân 1984

Hải Hồ

Hải đảo xa xôi

Chú bé sợ toán

Như mọi buổi sáng quen thuộc, trước khi đi làm, bố chọn ba bài toán đố, đánh dấu bên lề và giao quyển "tập toán" cho Sinh. Sinh sẽ phải tìm cho ra đáp số cả ba bài toán ấy. Đấy là mức ôn tập hàng ngày trong suốt thời gian nghỉ hè. Bố bảo chỉ làm xong ba bài toán là tha hồ chơi. Nhưng nào có dễ dàng gì đối với Sinh, nó chúa sợ toán. Ba bài toán sẽ đẻ ra hàng chục con tính, rồi lại lời giải nữa, chứ có ít đâu. Kể ra Sinh không phải là đứa dốt toán. Chính là nó ngại. Phải nghĩ lôi thôi lắm. Trong các môn học, nó cho toán là môn rắc rối nhất. Chao ôi! Đến nhức đầu lên được. Một bài tập làm văn lý thú hơn nhiều.
Sinh có thể tả lại một chú bộ đội giống hệt như chú bộ đội nó thường gặp. Có lần tả con mèo, nó đã viết cái đoạn con mèo ăn vụng nồi, bị mẹ vớ que củi đánh. Rồi cu cậu nhảy phóc lên mái nhà, vừa liếm mép vừa kêu "meo meo". Đúng đã có một lần xảy ra như thế thật. Nó nhớ lại được và kể rõ tỉ mỉ về tội của con mèo. Thế là cô giáo khen: "Bài văn có ý", và cô cho tám điểm. Còn như cái môn toán. Thật là đủ mọi con tính lôi thôi! Thí dụ như nó có tiền bỏ túi quần xoóc này chẳng hạn. Ví thử là hai hào, tất nhiên nó tự hiểu mua một hào kẹo tức là chỉ còn mỗi một hào để mua ổi. Ổi bé, nó sẽ mua được năm quả, ổi to thì ba quả thôi, mà to tướng như loại ổi tầu lại chỉ có độc một quả. Có khi nó chẳng mua sẽ chén kẹo tuốt. Còn những chuyện rắc rối hơn thì nó chẳng bao giờ phải lo rồi. Những là mua chục thước vải, mỗi thước bao nhiêu, hai con gà, ba con vịt, mỗi con giá bao nhiêu. Mua to quá, đấy là chuyện của người lớn, mà lớn lên là khắc biết mọi thứ, giỏi hơn lúc còn bé chứ. Thế mà bố lại cứ thích nó làm cái món to với những bài toán đều là nhiều con số. "Tích tắc! Tích tắc! Tích tắc!" Chiếc đồng hồ để trên nóc tủ đều đều đánh nhịp nho nhỏ như thúc giục, nhắc nhở nó. Đã tám giờ rưỡi rồi. "Mình phải làm cho xong để còn đi chơi mới được". Nó chăm chú nhẩm lại bài. "Ngày khai giảng, bố Ba mua cho Ba năm quyển vở, giá mỗi quyển mười sáu xu..." Con mèo Đốm chui dưới gầm ghế, ngóng đầu ngắm cái chân bỏ thõng đu đưa của Sinh. Mèo khẽ gọi: "Meo". Sinh cúi xuống "A! Chú mèo!" Nó bế con vật vào lòng, vuốt vuốt cái tai:
-Mày thì không bao giờ phải làm toán hả?
-Mèo... Grù... ù...
-Một tháng, một năm mày bắt bao nhiêu con chuột, mày có cộng không?
-Grù... Grù...
Con mèo thở, đuôi cong lên thích thú.
-Chú mày để xổng mất mấy con chuột chí nào? Xổng thì phải làm tính trừ...
-Meo... eo... eo...
"Tích tắc! Tích tắc! Tích tắc!" Cái đồng hồ gọi nó.
-Thôi! Chưa thể chơi với mày được. Tao còn phải làm toán, hiểu không?
Sinh hất chú mèo xuống đất. Mèo ngẩn ngơ giây lát rồi vươn vai, khoan thai đi ra cửa. Chắc là nó đi tìm bạn thân của nó đấy. Sinh ngó theo, vẻ tiếc rẻ, rồi nó cầm cán bút cúi đầu trên quyển vở. Nó lại nhẩm đề bài: "Ngày khai giảng, bố Ba mua cho Ba năm quyển vở..."
* * *
Sáng ngày hè, mặt trời thường dậy rất sớm và những tia nắng lóe lên rất nhanh. Chỉ một thoáng nắng đã chói lọi trên vòm cây, mái nhà, đường phố, ánh nắng ban đầu còn vàng mỏng sau cứ sáng rực lên mãi. Mẹ Sinh rất sợ cái nắng hè này, nhưng Sinh thì chẳng coi mùi mẽ gì. Mùa hè thật là tuyệt! Dường như cứ bước chân ra khỏi nhà là bao nhiêu thú vui chào đón nó. Những trận đấu bóng nảy lửa với tụi bạn cùng phố. Cứ mỗi bên ba đứa là đã có thể đấu với nhau được rồi. Còn những chú ve sầu nữa chứ! Chà chà! Cả Hà Nội dễ có đến ức triệu con ve sầu. Chúng kêu inh ỏi. Sao ve sầu lại thích đậu ở cây sấu nhỉ? ừ, sấu! Những quả sấu chín vàng, gọt vỏ lượn quanh kéo dài ra được đến gang tay ấy. Đấy, đấy! Mới sắp xong bài toán thứ nhất thôi mà ánh nắng đã rực lên khung cửa sổ, nhoáng cái nắng đã bò men vào thành cửa như rủ rê nó ra khỏi nhà. Sinh không kịp chú ý tới cái nắng mon men rủ rê bên ngoài thành cửa ấy. Nó đang hăm hở vì vừa tìm được đáp số của hai bài toán đầu mà. Thích quá! Đem so với đáp số trong sách bài tập, hoàn toàn đúng. Bây giờ chỉ việc chép sạch vào vở nữa là "mò" tới bài thứ hai được. Đã bảo mà, chỉ cần tập trung ý nghĩ là có thể làm được ngay, miễn là đừng ngại, đừng lười thôi. Bây giờ Sinh lại bắt đầu nhẩm đề bài thứ hai. Hừ! Có vẻ rắc rối đấy. Bao giờ bài sau cũng cứ khó hơn bài trước. Sinh cắn cán bút. Sinh vẫn bị cái tật như thế, lúc nào bí phải nghĩ là cứ cắn đầu cán bút. ánh nắng cũng đã vượt qua khuôn cửa kính ùa vào phòng, in những ô sáng đều đặn trên sàn nhà. "Rè rè... re... ré... re re re"
-Ve sầu kim!
Sinh buột kêu lên và ngẩng nhìn ra ngoài. Đúng rồi! Một con ve sầu kim đang ngân lên cái âm thanh cao vút nghe mới quyến rũ làm sao. "Ré... ré... ré... re re re". Nó kêu gần lắm! Chắc chỉ ở ngay cái cây nhỏ trước cửa sổ thôi. Sinh bước vội ra. Lẽ ra lúc này cần phải tập trung, nhất là công việc của nó đang có đà vui. Chẳng phải nó vừa làm xong bài toán thứ nhất đấy ư? Đấy! Nó đang ngửa cổ ngó tìm con ve bé nhỏ rồi. Bây giờ thì nó còn nhớ gì mấy bài toán nữa. Con vật như trêu tức nó, đã im bặt. Chà! Giá mà tóm được nhỉ. Loại ve này xinh lắm. Chỉ bé bằng đầu ngón tay út thôi. Kêu rất thanh. Lại rất hiếm. Thế là ánh nắng, vòm cây, đường phố và con ve sầu kim cứ như khêu gợi, vẫy gọi nó. Nó quay vào bàn chẳng được một phút. Nó chặc lưỡi: "Dù sao mình cũng đã làm xong được một bài. Đến chiều mình sẽ làm nốt mà. Mình sẽ đi hỏi thằng Minh, cái thằng "vua toán của lớp" ấy!" Gấp sách vở lại, Sinh bước ra khỏi nhà, qua cái cổng sắt cũ kỹ. Nó đút tay vào túi quần xoóc, đi tới nhà bạn cùng phố.
* * *
Nắng chói chang! Đường phố này có nhiều cây sấu to. Phố không có cửa hiệu buôn bán, chỉ toàn nhà ở. Lại đang giờ làm việc nên đường càng vắng lặng. Giữa đường, một bác công nhân già đứng trên thành chiếc xe bò đỗ sát miệng cống ngầm đã mở nắp. Bác chờ người bên dưới vét đầy xô, giật dây báo hiệu là bác ta lại kéo lên. Đổ xô bùn cống vào xe xong, bác lại thong thả buông xô xuống. Vắng gió, nắng càng gắt, bùn cống trong xe như càng bốc lên mùi nồng nặc. Một lát sau, vừa kéo dây, bác ta vừa nói với xuống dưới:
-Nghỉ ít phút đã chú mày ơi! Từ dưới cống một cái đầu buộc chéo chiếc khăn mùi xoa nhỏ, một bộ mặt thanh niên trẻ nhô lên. Anh thợ vét cống lên đến mặt đường oằn lưng, vươn vai, thở một hơi dài như muốn hút hết khí trời vào lồng ngực. Anh thốt lên:
-Ngạt quá bố ạ!
Bác thợ già mỉm cười:
-Kể chú mày cũng vào loại chịu giỏi đấy! Khà!
Bác ta đổ xô bùn vào xe, còn anh thợ trẻ tới vỉa hè ngồi bệt xuống gốc cây sấu. Người già rủ người trẻ:
-Ra bà hàng nước làm một cốc chè tươi chứ!
Anh lắc đầu xòe đôi tay lấm đầy bùn cống:
-Chẳng! Bố khát thì đi. Tôi nghỉ thôi.
Anh thợ trẻ ngồi lại một mình, nhặt hòn gạch nhỏ vạch xuống mặt đường những hình tam giác chia cắt nhằng nhịt. Anh thừ mặt suy nghĩ, đôi mày nhíu lại, vẻ mải mê đăm chiêu; chắc những hình tam giác ấy đang giữ nhiều điều bí ẩn đối với anh ta lắm. Sinh đi tìm bạn nhưng không gặp. Nó đi vơ vẩn một mình trên đường phố. Vừa đi nó vừa ngửa tay tung tung đồng năm xu sáng loáng. "Keng", đồng xu rơi xuống đường, lăn một đoạn dài. Sinh nảy ngay ra trò chơi, nó thả cho đồng xu lăn và bước theo. Hễ đồng xu sắp đổ, Sinh lại đá thêm cho nó lăn tiếp trên đường nhựa, tưởng như đang điều khiển một chiếc bánh xe tự động nhỏ tí xíu. Sinh mải nghịch trên mặt đường, không để ý tới cái choạc sắt úp trên miệng cống với bảng hiệu "cấm" đo đỏ. Đồng xu vẫn chạy, đồng xu sắp ngã. "Hấp", miệng nói chân nó đá hất luôn, đồng xu bon bon lăn qua kẽ choạc sắt rơi tọt xuống cửa miệng cống đã mở, Sinh vội đuổi xô tới. Anh thợ trẻ nhìn thấy nó từ nãy vội bảo:
-Lộn cổ xuống đấy giờ, cậu bé!
Sinh dừng lại nhìn anh ta:
-Em... em rơi đồng năm xu.
Anh thợ trẻ cười, vẻ trêu ghẹo:
-Nó trốn xuống đấy để cậu khỏi mua kẹo mà.
Sinh nhìn anh ta mỉm cười. Anh nháy nháy mắt, vẫy tay:
-Lại nhờ tý, ông bạn nhỏ!
Nó bước tới và anh ta nghiêng người lấy cùi tay cà cà xuống túi áo:
-Lấy giúp điếu thuốc lá. Tay tớ bẩn.
Sinh móc tay vào cái túi áo rộng, lấy ra bao thuốc lá. Anh thợ trẻ vui tính dẩu môi ra. Nó bật cười, đút điếu thuốc vào miệng anh. Anh ta gật gật, lại lấy cùi tay trái cọ vào sườn trái:
-Diêm!
Nó lại móc diêm, thấy anh chìa đôi tay bẩn, nó hiểu ý, xòe lửa và châm vào đầu điếu thuốc. Người thợ trẻ hít một hơi thật dài, nhả khói, gật đầu khen:
-Khá lắm.
Anh gõ ngón tay xuống gốc sấu rủ nó.
-Ngồi xuống đây.
Sinh ngoan ngoãn ngồi cạnh, nó cẩn thận bỏ trả diêm thuốc vào túi anh, rồi lặng nhìn ra cái miệng cống. Còn anh thợ trẻ vừa hút vừa ngắm nhìn cái đầu tóc bù xù và khuôn mặt bần thần của chú bé. Người thợ mỉm cười, hích cùi tay vào vai nó hỏi đùa:
-Sao! Tiếc đồng tiền vàng hở?
-Vàng đâu! Mỗi năm xu.
Giây lát, nó hỏi lại người thợ.
-Dưới cống thì nhiều hang chuột lắm, phải không anh?
Người thợ không trả lời, ra hiệu cho nó cùng đi tới trước miệng cống. Sinh nhòm xuống dưới, cống sâu hun hút, nước nhầy nhụa đen bóng. Anh ta bảo nó:
-Thấy chưa? Một bể nước.
Nhưng chú bé bỗng reo lên như khám phá ra điều gì thú vị:
-Có bậc thang bằng sắt để xuống kia kìa.
Anh hỏi nó:
-Chú mày có dám xuống không?
Không do dự, nó gật:
-Anh cho em xuống, anh nhớ.
-Không sợ bẩn à?
Nó lắc:
-Anh đấy thì sao!
-À! Đây là nghề của anh. Thợ vét cống mà. Lại hè ngồi cho khỏi nắng.
Đứa bé theo người thợ trẻ tới hốc sấu lúc nãy. Nó lấy tay khỏa khói thuốc anh vừa thở ra.
-Dưới ấy sâu ghê lắm hở anh?
Người thợ gật:
-Chui xuống có thể cứ tụt xuống mãi.
-Mãi đến đâu thì thôi?
Anh le lưỡi dọa đùa:
-Đến âm tá địa ngục.
-Không phải.
Anh nói dối.
Nó xua xua bàn tay.
-Giữa lòng quả đất có lửa chứ lại âm tá à. Cô giáo bảo thế.
-Và đây là vỏ quả đất đã nguội chứ gì.
Anh ta tiếp lời nó và khen.
-Khá lắm! Tớ không lừa được chú mày rồi. Đùa thôi, chứ không sâu đâu, chỉ rất dài và nhiều ngóc ngách lắm.
Thấy nó chú ý nghe, anh nói thêm:
-Chú mày biết không? Cứ chui theo cống là có thể đi ngầm khắp mọi nơi.
-Thế cơ à? Ô tô, tàu điện chạy trên đầu, dân vét cống chúng tớ cũng phớt tỉnh.
-Mà có đi được khắp Hà Nội không?
Anh gật:
-Hà Nội bao nhiêu đường phố là bấy nhiêu đường cống ngầm, cũng ngang dọc.
Anh lượn bàn tay làm hiệu theo lời nói.
-Chơi đi trốn mà chui được xuống đây thì tha hồ.
Anh thợ trẻ gật đầu:
-Có rồi đấy.
-Thế anh cũng cho trẻ con xuống chơi à?
-Ta "chơi" đi trốn với Tây ý mà.
Chú bé nhìn chằm chằm người công nhân, vẻ ngơ ngác khó hiểu. Anh ta giảng giải:
-Thế này nhớ. Hồi trước thằng Tây bỏ tù công nhân ta vào nhà pha Hỏa Lò. Công nhân mới trốn ra chui tọt xuống cống. Tây báo động gọi lính đi truy lùng tù sổng. Nó đi trên đường sục vào nhà, vào ngõ, nhưng tù sổng cứ ung dung đi ngay dưới chân nó. Thằng bé thốt lo lắng:
-Ai mở nắp cống cho mà lên.
Người thợ cười phá lên:
-Ngốc ơi! Các ông ấy theo cống bò ra bờ sông Hồng. Cửa cống ở đấy.
-Cửa cống! Cống cũng có cửa.
Thằng bé nhắc lại, sung sướng.
-Ừ! Toài ra sông, lặn một hơi bơi sang bên kia. Thoát! Tắm một cái cho mát mẻ. Ú tim! Thế là Tây thua, biết chưa?
Anh ta toét miệng cười.
-Tài quá nhỉ!
Câu chuyện của người thợ vét cống vui tính đã hấp dẫn nó, làm nó quên phắt cái đồng năm xu mới toanh. Nó thủ thỉ hỏi:
-Ai nghĩ ra việc xây cống ở Hà Nội, khôn ghê!
-Công nhân chứ, chú mày! Công nhân xây, công nhân vét bùn, lại cả công nhân bưu điện mắc dây dưới ấy nữa, hiểu không? Có thích làm công nhân như chúng tớ không?
Sinh gật đầu nhưng nó nói sẽ sẽ, vẻ tiếc rẻ:
-Chỉ sợ ở nhà lại không cho. Phải đi học.
-À! Là lúc lớn cơ chứ! Còn bây giờ đi học là đúng rồi. Chú có biết không? Thú lắm. Nước nào cũng có cống ngầm như thế này, hiểu không? Và nước nào cũng có công nhân làm việc ở dưới cống.
Bác thợ già đã trở về chìa hai quả chuối cho anh ta:
-Ăn đi rồi vét mấy tua nữa.
Người thợ ngừng kể, cầm chuối đưa cho Sinh một quả:
-Em ăn đi! Nó lắc đầu:
-Em...
-Ăn! Khách sáo thế là không đúng kiểu công nhân rồi. Công nhân là cùng có, cùng ăn.
Sinh nhìn người công nhân và cầm quả chuối:
-Em xin! Bác công nhân già cũng bảo:
-Ăn đi cho vui, cháu!
Còn người trẻ thì phá ra cười vui vẻ:
-Có thế chứ! ông bạn công nhân tương lai.
Vừa ăn chuối, anh vừa kể tiếp câu chuyện với chú bé:
-À! Thế này nhớ! Hễ muốn gặp nhau ở dưới cống là cứ việc xây nối tiếp vào nhau.
Sinh ngừng nhai:
-Cơ mà gặp sông?
-Thì cứ xây qua sông mà.
-Thế biển? -Cũng xây được chứ sao. Giai cấp công nhân mà không xây được à? Bác thợ già đang đứng quạt hỏi chen vào:
-Chú mày bịa chuyện gì đấy?
Anh cười:
-Bịa đâu! Chuyện công nhân mà.
Sinh lại hỏi:
-Thế xây chệch không gặp thì sao?
-Chệch thế nào được, phải tính toán chứ! Công nhân là phải giỏi cả môn toán rồi.
-Toán!
Nó thốt kêu se sẽ.
-Đúng. Phải giỏi toán mới tính được chứ.
-Anh không để ý tới vẻ ngỡ ngàng của thằng bé vốn sợ toán ấy.
-Xây xong là toàn công nhân các nước gặp nhau. Bắt tay! Đủ cả nhớ!
-Lại chỉ gặp ở dưới cống thôi à?
Nó bật hỏi, khiến người công nhân già bật cười, bảo anh ta:
-Bịa với trẻ con nữa thôi ông trẻ?
Anh cười, cãi lại:
-Bịa đâu! Nghĩa là chú mày hiểu không? Thông đường cống các nước rồi, hiểu không? Bắt tay rồi, hiểu không? Bấy giờ mới được lệnh: "Hấp!" một cái, cùng mở nắp cống. Thế rồi kéo chân lũ đế quốc tụt xuống cống. Còn công nhân thì lên hết trên đường đóng sập cống lại. Cho chúng hóa chuột ráo. Hiểu không?
-Thế... thế nhỡ chúng nó mở nắp chúng nó lên?
Chú bé băn khoăn hỏi. Người thợ bĩu môi lắc mạnh:
-Loại ấy có phải công nhân đâu mà biết mở. Lũ bụng to ăn sẵn mà lỵ.
-Thế thì chết đói.
-Thì đã bảo hóa chuột ráo mà. Phải không bác?
Ông già cười:
-Cũng phải đấy!
Giắt quạt vào sau lưng quần, ông giục:
-Làm thôi! Chú mày nghĩ cũng giỏi chuyện thật.
-Như thế đã hiểu chưa?
Anh phủi quần đứng dậy cùng người thợ già bước tới miệng cống. Sinh cũng bước theo họ:
-Anh cho em xuống với anh một lúc, em xem.
Anh thợ trẻ lắc đầu:
-Không được! Nước và bùn còn nhiều lắm. Chú mày mà xuống thì ngập rốn. Nói xong anh ta bíu vào thang tụt xuống. Bác thợ già cũng bảo nó:
-Xuống nghịch gì cho bẩn quần áo cháu!
-Cháu không sợ bẩn đâu.
Nó nói, vẻ quả quyết. Giọng bác ta nghiêm chỉnh hơn:
-Về đi kẻo nắng. Đây có phải chỗ chơi đâu.
Anh thợ trẻ có vẻ thương hại thằng bé, anh nhoai lên, thò đầu nháy mắt với nó, nói nhỏ:
-Này! Để hôm nào cạn nước, hết bùn tớ sẽ cho cậu đi "du lịch" một hôm dưới này.
Anh hất hàm.
-Về đi.
-Mà đến hôm nào cơ ạ?
-Vài hôm nữa.
-Anh đừng nói dối nhớ.
-Tất nhiên.
Anh ta quệt vào má nó.
-Chết quên! Bẩn.
Thằng bé cười.
-Thôi!
Anh khoát tay.
-Về đi ông bạn công nhân tương lai.
Và anh ta thụp xuống. Sinh chạy tâng tâng về, nó cũng chả cần chùi cái vết bùn ở má, trong lòng đang thích thú vô cùng. Thế là nó sẽ được xuống cống ngầm. Đi chơi dưới ấy có mà trời biết. Rồi nó sẽ kể lại những điều bí mật dưới cống cho bọn bạn nghe. Chúng nó cứ là trố mắt. Nó hỉ hả về đến nhà, vừa bước vào cửa mẹ nó đã hét lên:
-Gớm chưa kìa! Đi đâu về mà mồ hôi nhễ nhại, mặt mũi lem luốc thế hử?
Mặt đỏ phừng phừng, Sinh vẫn tràn ngập niềm vui. Nó vội khoe:
-Con sẽ được xuống cống ngầm dưới đất cơ.
-Cái gì?
Sinh lại sát mẹ:
-Đi với anh công nhân. Theo xuống cống xem, anh vét cống ở ngoài đường ấy.
-Ối giời!
Người mẹ kêu lên.
-Nghịch bẩn nghịch thỉu thế nữa.
Sinh phụng phịu:
-Mẹ không biết thì thôi.
-Rửa đi! Rồi về tao bảo với bố mày.
Bà rút khăn mặt và nắm tay con lôi ra sân.
Nó đành bước theo mẹ, bụng vẫn không hiểu sao mẹ lại sợ phát khiếp lên như thế. Giá mà mẹ được nghe anh ấy kể chuyện công nhân thế giới xây cống qua cả sông, cả biển rồi gặp nhau nhỉ.
* * *
Tối hôm ấy, khi nghe mẹ Sinh mách ý định nghịch ngợm của Sinh và biết con không làm xong được hết ba bài toán, bố Sinh buồn: "Một thằng bé lười, hay lêu lổng!" Nhưng cũng chính trong giấc ngủ tối ấy, chú bé lại thiếp lịm với giấc mơ kỳ ảo. Kìa! Sinh đang cùng anh thợ vét cống đi trong lòng đất. Anh thợ dắt Sinh đi, đường cống ngầm không bẩn một tý nào. Thật như thế, rõ ràng xây toàn bằng gạch hoa và dài tăm tắp. Từng đoạn một có những chùm ánh sáng rọi xuống từng vệt dài như vệt nắng vẫn thường xuyên qua lỗ hổng trên hiên nhà nó. Nhưng vệt nắng ở đây đẹp hơn nhiều, xanh mờ và huyền ảo lạ kỳ. Sinh cố ngước tìm nhưng không thấy bóng đèn. Ai thắp cái ánh sáng đó nhỉ? À! Chắc là bóng đèn của bà tiên. Anh thợ trẻ cũng ngắm những tia ánh sáng đó. Anh cười bảo: "ánh sáng mặt trời soi đường cho anh em mình đi đấy!". Nó cười tít. Hai anh em cứ dắt nhau đi rẽ ngang rẽ dọc rất nhiều lần, con đường ngầm kỳ lạ như dài thêm ra vô tận! Bỗng tới một chỗ có rẽ ngang, lại đề biển số 37. Sinh reo lên:
-Có biển số giống ở cửa nhà em.
Anh thợ gật đầu:
-Đúng rồi! Đây đúng là đường cống ngầm dưới sân nhà em, chắc cả nhà đang chờ em ở trên mặt đất đấy.
Chú bé thích thú gào to:
-Mẹ ơi! Bố ơi! Con ở dưới này này.
Tiếng gọi của nó vang khắp đường cống, ngân dài mãi như tiếng chuông vang. Anh thợ trẻ nắm tay nó:
-Em cứ áp tai vào vách cống mà nói chuyện. Trên nhà nghe thấy đấy.
-Thật không ? Thế thì thích nhỉ?
-Hẳn đi chứ!
Nó bước nhanh tới áp sát tai vào vách, gọi vui vẻ:
-Mẹ! Mẹ đang làm gì đấy?
-Cái gì? Ai gọi thế?
Tiếng mẹ hỏi.
-Con đây! Con là thằng Sinh mà.
-Sinh! Con ở đâu đấy? Sao mẹ chả thấy?
Nó cười. Anh công nhân cũng nhìn nó cười. Nó nháy mắt, xua tay ra hiệu cho anh ta đừng nói và nó hỏi:
-Thế mẹ ở đâu hẵng?
-Mẹ đang ngồi ở giường chứ đâu.
Tiếng bà mẹ.
-Thế thì con ở ngay dưới chân mẹ ấy.
-…
-Đúng mà! Có thể là chệch đi một ít. Con ở dưới gầm bàn cũng nên. Hì! Hì!
-Lạ chưa? Sinh ơi! Đừng nghịch nữa.
Tiếng người mẹ run run.
-Lại đây với mẹ.
-Hì! Hì!
Nó cười thích thú.
-Con ở dưới đất mà. Dưới này đẹp lắm. Con có thể đi khắp mọi nơi.
-Sao lại thế? Con đang ở đâu?
Giọng người mẹ đượm lo âu.
-Mẹ chẳng thấy con đâu cả.
-Con ở dưới cống mà. Tài không? Con đi với anh công nhân vét cống đấy.
Tiếng bà mẹ kêu lên:
-Ối giời ơi! Mày lại nghịch bẩn thế ư?
-Không bẩn. Con cam đoan với mẹ là sạch! Không bẩn một tí nào.
Mẹ nó quát lên:
-Về! Về ngay! À, phải rồi, mình nằm mê. Nó mở to mắt. Đây là mình đang ngủ ở nhà mình. Thật tiếc quá. Giá mình đừng sực tỉnh thì có lẽ còn đang đi với anh công nhân xem nhiều thứ đẹp lắm. Lại còn được gặp các anh công nhân các nước cũng nên. Tiếc thật! ! Bố và mẹ cũng đang ngủ im cả. Tích tắc! Tích tắc! Tích tắc! Đúng rồi! Chỉ có chiếc đồng hồ trên nóc tủ là không ngủ mà thôi.
* * *
Một ngày hè mới lại bắt đầu. Sinh lại ngồi bên bàn với ba bài toán mới. Nhưng sáng nay nó chưa thể đọc lại đề bài. Giấc mơ đêm qua cứ diễn lại trong trí óc nó. Nó nhớ rõ mồn một, đường cống không bẩn mà đẹp, anh công nhân vui tính ấy không lem luốc một chút nào, không mặc cái áo rách có túi to nữa mà mặc cái áo trắng phau, cái quần xanh ngắt, những chùm ánh sáng mơ hồ, hai người dắt nhau đi vui vẻ... Sinh muốn gặp ngay người thợ vét cống ấy, nó muốn kể lại cho anh nghe về giấc mơ đêm qua. Anh ấy có hay nằm mê không nhỉ? Giá anh ấy cũng mơ thấy như mình nhỉ? Nó lại bỏ mấy bài toán, đi ra ngoài đường phố. Nó không đi lang thang như mọi hôm, mà đi thẳng tới chỗ người công nhân vét cống. Cái choạc sơn trắng đỏ, có biển cấm tròn tròn trên nóc kia rồi. Cũng như hôm qua, khi người thợ già thủng thẳng đi tới hàng nước chè, anh thợ trẻ lại hí húi với ông viên gạch nhỏ và những hình tam giác gạch xóa nhằng nhịt. Sinh bước tới:
-Anh!
Người thợ trẻ ngửng lên:
-A! ông bạn nhỏ!
Và anh nói đùa.
-Hôm nay không rơi đồng xu nào xuống cống chứ?
Chú bé lắc đầu, bàn tay vô tình vỗ vỗ vào túi:
-Em có nghịch nữa đâu.
-Khá! Hình như những hình tam giác vẽ trên hè vẫn làm anh mắc míu. Tay anh vẫn mân mê hòn gạch nhỏ, đôi mày nhíu lại. Sinh tò mò hỏi:
-Anh nghĩ gì đấy?
-Hà! Một bài toán hình. Hắc quá!
-Toán à!
Nó buột kêu và chợt nghĩ: anh ấy cũng làm toán. Người lớn đều cứ thích toán. Người thợ trẻ không để ý đến vẻ tư lự của chú bé. Anh chặc lưỡi:
-Chú mày biết không? Tối qua anh bị con 2 cay như ớt. Cái môn hình này...
-Anh lại cũng đi học nữa à?
Nó hỏi rụt rè.
-Chứ sao. Nhưng không được đi học ở trường ban ngày như chú đâu, học tối thôi. Chà! Gay nhất môn này đây.
Đang gõ cành cạch viên gạch vào chỗ hình tam giác nhằng nhịt, bỗng anh ngừng tay hỏi nó:
-Này. Chú đi học có giỏi cái môn toán này không?
Chú bé ngần ngừ nhìn anh thợ. Nó lo nếu nói thật là sợ toán thì anh ấy sẽ chê nó lười và không cho nó đi xuống cống ngầm nữa. Nhưng rồi nó không muốn nói dối người công nhân mới quen và dễ mến, nó rụt rè:
-Tập làm văn với viết chính tả thích hơn.
-A ha!
Anh ta cười phá lên rất tự nhiên.
-Chắc là cũng kém toán như tớ rồi. Chén "ngỗng" no chứ? Toán gay lắm chú mày ơi!
Như gặp được người cùng cảnh, thằng bé cũng cười theo, nó lắc đầu lia lịa:
-Em chúa sợ làm toán.
-Ấy! Thế thì tớ khác chú em rồi. Dốt mà anh lại rất mê. Càng gặp bài khó càng say.
Sinh đứng ngẩn ra. Nó thật không hiểu ý người thợ.
-Em... em tưởng anh chẳng cần phải học toán.
-Nhầm rồi chú bé ơi!
-Anh ẩy vai nó cười.- Chú mày tưởng chui cống như tớ thì không cần gì toán hết à?
Thấy đứa bé đứng lặng, anh hích tay:
-Này! Còn phải gặp nhau với công nhân thế giới bắt tay...
-Anh bảo đi theo cống mà.
-Chứ sao! Nhưng dốt toán thì làm sao tính toán xây được qua sông, qua bể cho khỏi lệch để gặp nhau. Phải không nào?
Dường như Sinh đã chịu, nó đứng im. Anh hỏi:
-Chú mày định lớn lên làm gì mà có vẻ ngại toán thế?
Sinh thủ thỉ:
-Đi bộ đội thôi. Bộ đội phi công.
-Chết! Cái món ấy mà dốt toán lại càng không được.
Nó cãi:
-Lớn lên sẽ biết chứ ạ!
Anh công nhân trẻ không cười, anh nhìn vào đôi mắt chú bé:
-Phải học mới biết, em ạ! Lúc anh còn bé, anh cũng nghĩ thế đấy. Cứ tưởng làm người lớn là giỏi cả.
Đứa bé hỏi rủ rỉ:
-Lúc còn bé bố anh cũng bắt anh làm nhiều toán à?
Người thợ lắc đầu:
-Anh ở với một bà cô từ bé. Cô anh nghèo.
Anh thở dài nho nhỏ. Thế là anh ấy bị mồ côi rồi. Đứa bé biết là anh công nhân ấy buồn. Những con ve trên khắp dọc đường phố kêu rộ lên inh ỏi. Hai anh em cùng im lặng như lắng nghe tiếng ve, tiếng gọi quen thuộc của mùa hè. Dưới gốc sấu, đôi bạn chênh tuổi đời lại chuyện trò với nhau. Anh thợ trẻ được nghe kể về giấc mơ đêm qua của chú bé, anh cũng hiểu nó vốn sợ ba bài toán hàng ngày trong vụ hè. Tuy không hiểu rõ ý định của người bố, nhưng anh đã giảng giải cho người bạn nhỏ của mình biết sự cần thiết của môn toán. Cho tới khi người bạn già trở lại, trước khi tụt xuống cống anh ta lại hẹn với chú bé lời hẹn hôm trước:
-Thế nào anh cũng sẽ cho chú đi du lịch dưới cống ngầm!
Trở về nhà, Sinh thấy vui hẳn lên. Nó sẽ chẳng sợ toán nữa, vì nó đã biết toán rất cần cho mọi người. Cả anh bộ đội phi công cũng cứ phải học toán từ lúc bé.
Thật kỳ lạ! Tối hôm ấy, bố của Sinh thấy con mình làm đủ cả ba bài toán và hai bài hôm qua bỏ dở! Những đáp số rất đúng! Khi nhìn vào tập giấy nháp, ông còn thấy lẫn những con tính làm thử, Sinh đã vẽ linh tinh đủ thứ. Những nét vẽ ngộ nghĩnh, nguệch ngoạc: cái máy bay có sao vàng ở cánh mà người phi công lại cưỡi lên đầu máy, những cái ống tròn dài nom như ống cống, ống máng gì đó, lại cả những hình người có râu và không râu, mặc quần xoóc có dây đeo như nó đang mặc. Và kìa, trước mặt người bố, đứa con lại đang ngồi ngoan ngoãn nhìn bố với đôi mắt long lanh chờ đợi một lời khen về kết quả của những bài toán ấy. Khi nghe con nói rõ câu chuyện của nó với anh công nhân trẻ, ông gật gù: "Khá". Bố của Sinh đã hiểu: chính cuộc gặp gỡ đó cùng những hình dáng kỳ quặc đầy vẻ tưởng tượng ở bản nháp kia đã giúp cho Sinh đủ sức tìm ra một lúc đáp số của những năm bài toán khó.
Hè 1963

Hết mục lục.