Tủ Sách Việt Văn

Chương 28

Dan Brown.
Biểu Tượng Thất Truyền.
Dịch giả: Nguyễn Xuân Hồng.
Chương 28.

Mal’akh phóng chiếc Limousine lên hướng bắc, về phía Kalorama Heights. Vụ nổ trong phòng thí nghiệm của Katherine khủng khiếp hơn gã dự đoán và rất may mắn là gã thoát ra mà không xây xước gì. Cũng tiện, tình trạng hỗn loạn tiếp theo vụ nổ đã giúp việc đào tẩu thuận lợi. Gã dễ dàng phóng chiếc Limousine qua một người bảo vệ đang cuống quít gào vào máy điện thoại.

Ta phải rời đường lớn, gã nghĩ thầm. Dù Katherine chưa kịp gọi cho cảnh sát thì vụ nổ chắc chắn cũng gây chú ý cho họ. Một gã đàn ông cởi trần lái xe Limousine khó lòng qua mắt bọn cớm.

Sau nhiều năm chuẩn bị, Mal’akh tin tưởng rằng đêm nay hoàn toàn tuỳ thuộc vào gã. Hành trình cho tới thời điểm này quả là một hành trình đằng đẵng, khó khăn. Những gì bắt đầu nhiều năm về trước trong cay đắng… sẽ kết thúc đêm nay trong vinh quang.

Vào cái đêm mọi việc bắt đầu, gã chưa mang tên Mal’akh. Thực ra, lúc ấy gã chẳng có tên gọi nào cả. Thằng tù số 37. Như hầu hết những kẻ bị tù tội ở Trại giam Soganlik tàn bạo nơi ngoại ô Istanbul, Thằng tù số 37 phải vào đây vì ma tuý.

Gã nằm trên giường trong một phòng giam bê tông tăm tối, bụng đói và rét run, tự hỏi không biết còn bị giam giữ bao lâu nữa. Người bạn tù cùng phòng, mà gã mới gặp hai mươi tư giờ trước đó, đang ngủ trên chiếc giường ngay phía trên gã. Viên quản ngục vừa tắt hết đèn đóm. Lão ta béo, nghiện rượu, không thích thú với công việc của mình và thường trút bực bội lên đám tù nhân.

Khoảng gần 10 giờ thì Thằng tù số 37 nghe thấy tiếng trò chuyện vọng qua đường ống thông hơi. Giọng nói thứ nhất không lẫn đi đâu được đó là giọng cắm cảu, chói lói của tay quản ngục, rõ ràng không thích thú gì việc bị đánh thức dậy lúc khuya khoắt.

- Vâng, vâng, ngài vừa đi cả chặng đường dài, - lão nói - nhưng không có chuyện thăm nom trong tháng đầu tiên. Quy định của Nhà nước mà. Không có ngoại lệ.
Giọng đáp lại rất nhẹ nhàng và lịch thiệp, mà cũng đầy đau khổ.
- Con trai tôi có được an toàn không?
- Nó nghiện ma tuý.
- Nó có được đối xử tử tế không?
- Cũng ổn, - lão quản ngục nói - Đây có phải là khách sạn đâu.
Một khoảng im lặng tái tê.
- Ông biết Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ yêu cầu dẫn độ mà.
- Vâng, vâng, họ luôn làm như vậy. Người ta sẽ đồng ý thôi, mặc dù khâu giấy tờ thủ tục có thể làm chúng ta mất đến vài tuần…hoặc thậm chí cả tháng…còn tuỳ.
- Tuỳ cái gì?
- Chà - lão quản ngục đáp - chúng tôi rất thiếu nhân viên - Lão dừng lại - Dĩ nhiên, thỉnh thoảng các bên liên quan như ngài quyên góp một số khoản cho nhân viên nhà lao để giúp chúng tôi thúc đẩy mọi việc nhanh hơn.
Vị khách nín lặng.
- Ngài Solomon - lão quản ngục nói tiếp, giọng hạ thấp - với một người mà tiền bạc không thành vấn đề như ngài, luôn có rất nhiều lựa chọn. Tôi quen khối người trong chính phủ. Nếu ngài hợp tác với tôi, chúng ta có thể đưa con trai ngài ra khỏi đây… ngay ngày mai, sạch sẽ hoàn toàn. Thằng bé thậm chí còn không hề bị truy tố khi về nước.
Người kia trả lời ngay.
- Quên gợi ý của ông đi, tôi không định dạy cho con trai tôi biết rằng tiền có thể giải quyết được mọi rắc rối hoặc là cuộc đời không cần biết đến trách nhiệm, đặc biệt là với một vấn đề nghiêm trọng thế này.
- Ngài muốn bỏ thằng bé lại đây sao?
- Tôi muốn nói chuyện với nó. Ngay bây giờ.
- Tôi đã thông báo rồi, chúng tôi cớ quy định. Không thể gặp gỡ gì hết…trừ phi ngài thu xếp phóng thích cho nó ngay lập tức.
Sự im lặng lạnh lùng kéo dài một lúc.
- Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ liên hệ với ông. Hãy giữ an toàn cho Zachary. Tôi tin nó sẽ lên máy bay về nước trong tuần tới. Chào ông.
Cửa đóng sầm lại.
Thằng tù 37 không tin vào tai mình. Sao lại có loại bố bỏ con trai mình ở cái địa ngục này để dạy cho nó một bài học chư? Peter Solomon thậm chí còn không chấp nhận lời đề nghị tẩy sạch lý lịch của Zachary.
Khuya hôm đó, nằm thao thức trên giường, Thằng tù số 37 đã nhận ra cách để tự giải thoát mình. Nếu tiền là thứ duy nhất khiến một thằng tù mất tự do thì Thằng tù số 37 sẽ có tự do. Peter Solomon có thể không chịu chi tiền nhưng, đúng như bất kỳ ai đã từng đọc các báo lá cải đều biết, con trai ông ta, Zachary, cũng có rất nhiều tiền.
Ngày hôm sau, Thằng tù số 37 nói chuyện riêng với lão quản ngục và đề xuất một kế hoạch, một âm mưu táo bạo, khéo léo sẽ đem lại cho cả hai đúng những gì chúng muốn.
Zachary Solomon phải chết thì kế hoạch mới có kết quả. - Thằng tù số 37 giải thích - Nhưng chúng ta đều có thể biến mất ngay lập tức. Ông cứ lui về quần đảo Hy Lạp. Ông sẽ chẳng bao giờ phải nhìn lại nơi này nữa.
Sau khi thảo luận, hai tên bắt tay nhau.
Chỉ ít lâu nữa Zachary Solomon sẽ chết, Thằng tù số 37 nghĩ, mỉm cười khi thấy mọi việc quá dễ dàng.
Hai ngày sau, Bộ Ngoại giao liên hệ với gia đình Solomon để thông báo tin dữ. Những bức ảnh chụp trong tù cho thấy xác con trai họ bị đánh đập dã man, nằm co quắp và bất động trên sàn phòng giam. Đầu bị nện mạnh bởi một thanh sắt, phần cơ thể còn lại bằm dập không tưởng tượng nổi. Có lẽ nó bị tra tấn rồi bị giết. Nghi can chính là tay quản ngục, kẻ đã biến mất, có lẽ cùng với tất cả tiền bạc của thằng bé bị sát hại. Zachary đã ký giấy tờ chuyển toàn bộ tiền bạc của mình sang một tài khoản bí mật và tài khoản này được rút hết ngay sau cái chết của nó. Không dò ra nổi tiền chảy đi đâu.
Peter Solomon bay sang Thổ Nhĩ Kỳ bằng máy bay riêng và trở về cùng với bình tro hài cốt của con trai để an táng trong nghĩa trang gia đình Solomon. Người ta không tìm thấy lão quản ngục. Sẽ không bao giờ thấy, Thằng tù số 37 biết rõ điều đó. Thân hình phì nộn của lão Thổ giờ đang yên vị dưới đáy biển Marmara, xực lũ ghẹ xanh di cư tới qua Vịnh Bosporus. Toàn bộ tài sản khổng lồ thuộc về Zachary Solomon đã được chuyển sang một trương mục ngân hàng hoàn toàn bí mật. Thằng tù số 37 lại trở thành người tự do, một người tự do với khối tài sản khổng lồ.
Các quần đảo ở Hy Lạp thật là thiên đường. Với ánh sáng. Nước. Và đàn bà.
Chẳng có gì là không mua được bằng tiền - nhân dạng mới, hộ chiếu mới, hy vọng mới. Gã chọn một cái tên Hy Lạp là Andros Dareios, Andros nghĩa là “chiến binh”, còn Dareios nghĩa là “giàu có”. Những đêm tăm tối trong tù khiến gã khiếp sợ, và Andros thề sẽ không bao giờ quay lại nơi ấy. Gã cạo trọc đầu, đoạn tuyệt hoàn toàn với thề giới ma tuý, bắt đầu một cuộc đời mới và khám phá những khoái lạc trần tục chưa hề nghĩ đến trước kia. Cảnh thanh bình một mình dong buồm trên biển Aegean xanh như mực trở thành cơn nghiện, khoái cảm khi hút chất dịch trên món thịt cừu nướng kiểu Hy Lạp trở thành niềm đam mê, và trò nhảy từ trên vách đá xuống những suối nước ngầu bọt ở Mykonos trở thành ma tuý mới của gã.
Ta đã phục sinh.
Andros mua một biệt thự sang trọng trên đảo Syros và sinh sống bên những con người lịch lãm tại thị trấn Possidonia. Cộng đồng mới này không chỉ giàu có mà còn rất văn minh và hoàn hảo về thể chất.
Những người hàng xóm của gã vô cùng tự hào với hình thể và trí tuệ của họ, mà cái sự hãnh diện đó rất dễ lây lan. Kẻ mới đến đột nhiên thấy mình cũng hăng hái tập chạy trên bãi biển, tắm nắng để cho cơ thể xanh xao trở nên dạn dày với nắng gió, và chịu khó đọc sách.
Andros đọc trường ca Odyssey của Homer, say mê hình ảnh những con người mình đồng da sắt mạnh mẽ chiến đấu trên quần đảo này.
Ngày hôm sau, gã bắt đầu tập tạ, ngạc nhiên khi thấy ngực và tay nở nang rất nhanh. Dần dà, gã cảm nhận ánh mắt phụ nữ thường hướng về phía mình. Sự ngưỡng mộ là một thứ tạo men say, gã thèm được nở nang hơn nữa, và đúng như vậy. Với sự hỗ trợ của các loại steroid trộn với hormone tăng trưởng bán ngoài chợ trời cùng những giờ miệt mài tập tạ, Andros đã biến đổi mình thành một người mà gã chưa bao giờ hình dung ra - một mẫu đàn ông hoàn hảo. Gã phát triển cả về chiều cao và cơ bắp, ngực căng phồng, chân tay gân guốc nở nang, nước da rám nắng đẹp tuyệt vời.
Tất cả mọi người đều phải ngắm nhìn.
Nhưng như đã được cảnh báo trước, các loại steroid và hormone không chỉ làm cơ thể Andros thay đổi mà còn tác động cả vào thanh quản, khiến giọng gã thành lào phào, nhẹ hẫng nhưng điều đó lại làm cho gã cảm thấy mình thêm phần bí ẩn. Cái chất giọng nhẹ, gây tò mò, kết hợp với cơ thể mới cùng tiền bạc của gã, và việc gã không chịu nói về quá khứ bí ẩn của mình, khác nào một thứ bùa mê đối với đám phụ nữ. Họ sẵn sàng hiến mình, và gã làm cho tất cả thoả mãn, từ những người mẫu thời trang tới đảo để chụp ảnh, những sinh viên đại học khêu gợi đi nghỉ mát đến những bà vợ cô đơn của hàng xóm láng giềng, đôi khi cả mấy cậu choai choai nữa. Bọn họ luôn đầy khát khao.
Ta là một kiệt tác.
Tuy nhiên, năm tháng qua đi, những cuộc phiêu lưu tình ái của Andros bắt đầu bớt dần tính ly kỳ. Mọi thứ khác cũng vậy. Hòn đảo thôi hấp dẫn, sách vở không còn thú vị, và thậm chí những buổi hoàng hôn đẹp mê hồn nhìn từ biệt thự cũng chán ngắt. Biết làm thế nào bây giờ? Hắn chỉ mới hai mươi tư tuổi và gã chưa cảm thấy già. Cuộc đời này còn những gì nữa? Gã đã nhào nặn cơ thể mình thành một kiệt tác, đã bồi bổ kiến thức và nuôi dưỡng trí tuệ mình bằng văn hoá, đã biến căn nhà của mình thành thiên đường, và vui thú với bất kỳ ai mà gã muốn.
Nhưng lạ thay, gã cảm thấy trống rỗng hệt như lúc còn ngồi trong nhà tù ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Ta thiếu thứ gì?
Vài tháng sau, câu trả lời đến với gã.
Andros đang ngòi một mình trong biệt thự, lơ đãng dò các kênh truyền hình phát vào lúc nửa đêm, thì tình cờ chọn tới một chương trình nói về những bí mật của Hội Tam điểm. Chương trình rất tệ, đưa ra nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời, nhưng gã lại thấy vô cùng thích thú với vô số luận điểm hoài nghi xung quanh hội ái hữu này.
Người dẫn chương trình đề cập hết huyền thoại này đến huyền thoại khác.
Hội Tam điểm và Trật tự thế giới mới…
Quốc ấn đầy tinh chất Tam điểm của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ…
Tổng bộ P2 của Hội Tam điểm…
Những bí mật thất truyền của Hội Tam điểm…
Kim tự tháp Tam điểm…
Andros giật mình nhổm dậy. Kim tự tháp. Người dẫn chương trình bắt đầu kể lại chi tiết câu chuyện về một kim tự tháp bằng đá bí ẩn có những dòng chữ khắc đã được mã hoá hứa hẹn dẫn tới nhiều tri thức thất truyền cùng nguồn sức mạnh vô biên. Câu chuyện có phần hoang đường ấy gợi gã nhớ lại một ký ức xa xăm…một hồi tưởng mờ nhạt về thời kỳ tăm tối. Andros nhớ ra rằng Zachary Solomon đã từng nghe cha mình nhắc đến một kim tự tháp huyền bí.
Hay chính là nó? Andros căng óc lục lại các chi tiết.
Khi chương trình kết thúc, gã bước ra ban công, để không khí mát mẻ giúp tâm trí khôi phục sự sáng láng. Giờ thì gã nhớ ra nhiều hơn, và khi hồi ức hiện về trọn vẹn, gã cảm thấy có một phần sự thật trong huyền thoại này. Nếu đúng như vậy thì Zachary Solomon - mặc dù đã chết từ lâu - vẫn có chỗ để tận dụng.
Ta còn gì để mất đâu?
Ba tuần sau, kế hoạch được vạch ra rất kỹ lưỡng, Andros đứng trong gió lạnh cắt thịt bên ngoài nhà kính tại tư gia Solomon ở Potomac. Qua lớp kính, gã nhìn thấy Peter Solomon đang trò chuyện và cười với em gái ông. Rõ ràng họ chẳng ngại ngùng gì mà không quên đi Zachary, gã nghĩ bụng.
Trước khi kéo chiếc mặt nạ trượt tuyết xuống, Andros hít một chút cocaine, lần đầu tiên sau nhiều năm không dùng, cảm giác táo tợn quen thuộc trở về với gã. Andros rút một khẩu súng, sử dụng chiếc chìa khoá cũ để mở cửa, và bước vào trong.
- Chào cả nhà Solomon.
Rủi thay, đêm hôm đó lại diễn ra không đúng như kế hoạch. Thay vì đoạt được kim tự tháp - cái mục tiêu khiến gã mò đến - gã lại bị dính đạn và phải chạy tháo thân qua bãi cỏ phủ đầy tuyết về phía khu rừng gần đó. Gã rất ngạc nhiên thấy Peter Solomon đuổi theo đằng sau, tay vung vẩy khẩu súng. Andros lao vào rừng, chạy men theo lối mòn dọc một khe suối sâu. Tít phía dưới, tiếng thác nước đổ ầm ầm trong không khí mùa đông lạnh lẽo. Gã chạy qua một khu trồng toàn cây tùng và ngoặt sang trái, vài giây sau, gã trượt xuống lối đi tuyết phủ dày, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.
Lạy Chúa!
Chỉ vài bước chân nữa là con đường kết thúc, lao thẳng xuống dòng sông băng giá phía dưới. Tảng đá lớn ở cạnh đường vẫn còn nguyên nét khắc vụng về của một bàn tay trẻ dại: CẦU CỦA ZACH

Phía bên kia khe suối, con đường lại chạy tiếp. Cây cầu đâu? Ma tuý trong người không còn tác dụng nữa. Ta mắc kẹt rồi! Hoảng hốt, Andros quay người chạy ngược lên lối mòn, nhưng Peter Solomon đã đứng chắn trước mặt, thở hổn hển, tay vẫn lăm lăm khẩu súng.
Andros nhìn khẩu súng và lùi lại một bước. Từ chỗ gã xuống dòng suối băng phủ kín phải cao ít nhất 15 mét nữa. Hơi nước phía đầu nguồn thác nước bốc lên ngùn ngụt, khiến gã lạnh thấu xương.
- Cây cầu của Zach mục nát từ lâu rồi. - Solomon nói - Nó là đứa duy nhất lần mò xa tới tận đây - ông cầm chắc khẩu súng - Vì sao mày giết hại con tao?
- Nó chẳng là gì cả, - Andros đáp - Một thằng nghiện ma tuý. Tôi làm thế là ban phước cho nó đấy.
Solomon tiến lại gần hơn, khẩu súng nhằm thẳng vào ngực Andros.
- Có lẽ tao cũng ban phước như vậy cho mày - Giọng ông dữ tợn đến ngạc nhiên. “Mày đánh đập con trai tao tới chết. Một con người sao lại làm việc đó?
- Con người làm những việc không ai nghĩ tới khi bị dồn vào đường cùng.
- Mày đã giết hại con trai tao!
- Không, - Andros đáp, vẻ giận dữ - Chính ông đã giết con trai ông. Làm gì có loại người bỏ mặc con trai trong tù khi có khả năng giải thoát cho nó! Chính ông đã giết con trai ông! Không phải tôi.
- Mày không biết gì cả! - Solomon quát lên, giọng đầy đau đớn.
Ông nhầm rồi, Andros nghĩ thầm. Tôi biết tất cả.
Peter Solomon tiến lại gần hơn, chỉ còn cách năm thước, súng vẫn chĩa thẳng. Ngực Andros bỏng rát, gã thấy rõ là mình đang chảy máu rất ghê gớm, hơi ấm đang lan xuống bụng. Gã ngoảnh nhìn vực sâu phía sau. Không thể được. Gã quay lại phía Solomon.
- Tôi hiểu ông nhiều hơn ông nghĩ đấy - gã thì thào - Tôi biết ông không phải loại máu lạnh giết người.
Solomon bước lại gần hơn, ngắm thật chính xác.
- Tôi cảnh cáo ông, - Andros nói - nếu ông bóp cò, tôi sẽ ám ảnh ông suốt đời.
- Vậy mày đã được như ý rồi - Nói xong. Solomon nổ súng.
***
Khi phóng chiếc Limousine đen về phía Kalorama Heights, kẻ giờ đây tự gọi mình là Mal’akh hồi tưởng lại điều kỳ diệu đã giúp gã thoát khỏi cái chết cầm chắc tại khe suối băng giá đó. Gã đã được chuyển thân mãi mãi. Phát súng chỉ vang xa trong khoảnh khắc nhưng ảnh hưởng của nó thì còn tác động qua hàng chục năm. Cơ thể gã, từng rám nắng gió và rất hoàn hảo, nay đầy sẹo…những vết sẹo mà gã che giấu bên dưới các biểu tượng xăm trổ dùng làm đặc điểm nhận dạng mới.
Ta là thiên thần Mal’akh.
Đây đúng là số mệnh của ta từ lâu.
Gã đã đi qua lửa đỏ, bị biến thành tro tàn, và giờ đây lại hồi sinh… chuyển thân một lần nữa. Đêm nay sẽ là bước cuối cùng trong hành trình dài và phi thường của gã.

Lực lượng Đặc biệt chế tạo được một loại chất nổ có biệt danh Key4, chuyên dùng để mở những cánh cửa khoá kín với mức độ thiệt hại nhỏ nhất. Thành phần chủ yếu gồm cyclotrimethylenetrinitramine và chất làm dẻo diethylhexyl, về cơ bản là một mảnh C-4 quấn trong mấy tờ giấy mỏng để nhét vào rầm cửa. Thứ chất nổ này rất đắc dụng với trường hợp phòng đọc sách tối nay.

Trưởng nhóm, đặc vụ Turner Simkins, bước qua tàn tích của những cánh cửa, nhìn khắp căn phòng bát giác rộng mênh mông xem có dấu vết di chuyển nào không. Chẳng có gì cả.
- Tắt hết đèn đi, - Simkins nói.

Đặc vụ thứ hai tìm thấy bảng điện trên tường, bèn với tay tắt các công tắc khiến căn phòng chìm trong bóng tối. Cả bốn người đồng loạt kéo mặt nạ dạ hành, điều chỉnh cặp kính đeo trên mắt. Họ đứng im, quan sát căn phòng đang hiện ra dưới sắc xanh lục của lớp kính đi đêm.

Mọi vật vẫn không thay đổi.

Chẳng ai lao ra trong bóng tối cả.

Những kẻ trốn chạy có lẽ không có vũ khí, nhưng cả đội tác chiến vẫn tiến vào phòng với súng ống sẵn sàng. Trong bóng tối, súng của họ phát ra bốn tia la-de đầy hăm doạ. Cả nhóm quét những chùm tia sáng theo mọi hướng, qua nền nhà, trên những bức tường phía xa, ra ban công, xuyên qua bóng tối. Thông thường, bóng dáng một khẩu súng ngắm bắn bằng tia la-de trong căn phòng tối om là đủ để buộc đối phương đau hàng ngay lập tức.
Nhưng tối nay không như vậy.
Vẫn không có gì chuyển động.

Đặc vụ Simkins giơ tay, làm hiệu cho đồng đội tiễn vào. Cả bọn lặng lẽ toả ra. Simkins thận trọng men theo lối đi chính giữa, đồng thời bật công tắc trên kính của mình, kích hoạt thiết bị bắt hình bằng nhiệt chi tiết mới nhất bổ sung cho vũ khí của CIA. Công nghệ bắt hình bằng nhiệt ra đời đã nhiều năm, nhưng những tiến bộ gần đây về kỹ thuật thu nhỏ, cảm biến vi sai và tích hợp nguồn kép còn góp phần tạo ra một thế hệ thiết bị hỗ trợ thị lực rất mới, tăng cường khả năng quan sát của các đặc vụ tác chiến.
- Chúng ta nhìn được trong bóng tối. Nhìn xuyên qua tường, và giờ đây còn nhìn ngược cả thời gian.

Thiết bị bắt hình bằng nhiệt nhạy với độ chênh nhiệt đến mức có thể xác định được không chỉ vị trí của một người… mà cả vị trí trước đó của họ. Khả năng nhìn thấu quá khứ là tiện ích quý báu hơn hết thảy Và đêm nay, một lần nữa nó lại chứng tỏ giá trị của mình. Lúc này, đặc vụ Simkins đã phát hiện được mấy hình ảnh nhiệt tại một chiếc bàn đọc sách. Hai chiếc ghế gỗ phát quang trong kính anh ta, toả ra thứ ánh sáng màu đỏ-tím, chứng tỏ chúng ấm hơn những chiếc khác trong phòng. Đèn bàn toát ánh sáng màu cam. Rõ ràng có hai người đã ngồi ở chiếc bàn này, nhưng vấn đề là hiện nay họ đã đi về hướng nào.

Anh ta tìm được câu trả lời của mình ở giữa phòng, chỗ có dãy quầy quây lấy một chiếc bục lớn. Trên quầy in vết tay đỏ lờ mờ.

Simkins giơ cao vũ khí, tiến về phía cái bục bát giác, quét thiết bị nhìn la-de qua bề mặt của nó. Anh ta vòng quanh bục và phát hiện một chỗ để ngỏ ở mé bên. Chẳng lẽ họ rúc được vào cái bục này. Tay trưởng nhóm đặc vụ nhìn kỹ viền cửa và phác giác một vết tay nữa đang phát sáng. Rõ ràng có người đã vịn mép chỗ hổng để chui vào bên trong cái bục.
Giờ thì không cần giữ im lặng nữa.
- Có dấu nhiệt! - Simkins nói to, chĩa súng vào chỗ hổng - Các cánh dồn lại đi!
Hai nhân viên mé bên tiến vào từ hai hướng đối diện nhau, vây chặt lấy bục bát giác.
Simkins tiến về phía chỗ hổng. Còn cách mười bước chân, anh ta đã phát hiện ra một nguồn sáng bên trong.
- Có ánh sáng trong khối hộp - anh ta nói to, hy vọng lời mình sẽ buộc ngài Bellamy và ngài Langdon phải chui ra khỏi bục, tay giơ cao trên đầu.
Chẳng có gì xảy ra.
Được chúng tôi sẽ có cách khác.

Simkins tiến lại gần chỗ hổng, và nghe thấy tiếng ầm ì mơ hồ vọng ra. âm thanh ấy rất giống tiếng máy chạy. Simkins dừng lại, cố gắng nghĩ xem vật gì tạo ra tiếng ồn trong một không gian chật chội như vậy. Anh ta nhích tới gần hơn, giờ đã nghe rõ tiếng ồn đó quả đúng là tiếng máy chạy. Nhưng khi anh ta tiếp cận chỗ hổng, mọi ánh sáng trong bục liền tắt ngấm.
Cảm ơn quý vị, anh ta thầm nghĩ, điều chỉnh lại thiết bị nhìn đêm của mình. Chúng tôi vẫn chiếm lợi thế cơ mà!

Đến chỗ hổng. anh ta ngó vào, hoàn toàn bất ngờ trước cảnh tượng bên trong. Đây không phải là một cái bục mà đúng hơn là phần trần được nâng cao của một cầu thang dốc dẫn xuống căn phòng phía dưới. Tay đặc vụ chĩa súng xuống cầu thang và bắt đầu dò dẫm tiến.
Tiếng máy chạy càng lúc càng to.
Đây là chỗ quái nào?
Căn phòng phía dưới phòng đọc là một không gian nhỏ, đầy máy móc. Tiếng ầm ì đúng là tiếng máy, Simkins chưa đoán ra nó hoạt động vì Bellamy và Langdon kích hoạt hay vẫn luôn vận hành như vậy. Nhưng dù thế nào thì cũng chẳng có gì khác nhau cả. Những kẻ chạy trốn đã để lại dấu nhiệt trên lối thoát duy nhất của căn phòng, đó là một cánh cửa thép nặng trịch với bảng khoá còn hiện rõ bốn dấu tay trên các phím số. Những đốm sáng màu cam loe ra quanh mép cửa, chứng tỏ rằng mé bên kia có ánh sáng.
- Phá cửa - Simkins ra lệnh - Đây chính là lối thoát của họ.
Mất có tám giây để kích nổ một tờ thuốc nổ Key4. Khi khói tan, cả nhóm tác chiến cùng trợn mắt nhìn cái thế giới ngầm lạ lùng mà ở đây người ta gọi là “kho sách”.
Các giá sách của Thư viện Quốc hội trải dài hàng dặm, hầu hết đều nằm dưới lòng đất. Những dãy sách bất tận trông như một dạng ảo giác “vô hạn” trong gương.
Một tấm biển đề rõ:
KHU VỰC KIỂM SOÁT NHIỆT ĐỘ.
Đề nghị luôn đóng chặt cánh cửa này!
Simkins đẩy mấy cánh cửa đã bị phá hỏng và cảm nhận không khí mát mẻ phía trước.Anh ta phì cười. Không ngờ lại dễ đến thế này.
Trong các môi trường có kiểm soát nhiệt độ, dấu nhiệt thường hiện lên rõ rệt chẳng khác gì ánh sáng mặt trời, thiết bị nhìn la-de lập tức phát hiện một vệt đỏ trên tay vịn trước mặt, chắc hẳn Bellamy và Langdon đã nắm lấy trong khi chạy qua.
- Các vị có thể chạy. - Simkins tự nhủ - nhưng các vị không trốn nổi đâu.
Cả nhóm tiến vào mê cung giá sách, Simkins nhận ra rằng sân chơi này rất thuận lợi cho anh ta, thậm chí chẳng cần dùng đến thiết bị nhìn đêm để xác định đối phương nữa.Trong điều kiện bình thường, mê cung kiểu này sẽ là một nơi trú ẩn rất tốt, nhưng Thư viện Quốc hội sử dụng loại đèn kích hoạt nhờ cử động của người để tiết kiệm năng lượng, và lộ trình đào tẩu của những kẻ chạy trốn lúc này hiện rõ như một đường băng. Một dải đèn chạy dài về phía xa, thỉnh thoảng lại đổi hướng.
Tất cả các nhân viên công lực đều tháo thiết bị nhìn đêm của họ. Với những đôi chân đã được rèn luyện kỹ càng, cả nhóm bám sát theo lối đi sáng đèn đó, luồn lách qua mê cung sách dường như bất tận. Chỉ lát sau. Simkins bắt đầu thấy ánh sáng nhấp nháy trong khoảng tối trước mặt. Chúng ta tới rồi. Anh ta chạy nhanh hơn, cho tới khi nghe thấy tiếng bước chân và tiếng thở nặng nhọc phía trước. Cuối cùng anh ta phát hiện một mục tiêu.
- Tôi nhìn thấy rồi! - anh ta tri hô.
Cái bóng cao lênh khênh của Warren Bellamy hiện rõ. Quý ông da đen ăn mặc chải chuốt loạng choạng luồn qua các giá sách, rõ ràng là thở không nổi nữa. Không ích gì đâu, ông già ạ.
- Dừng lại ngay, ông Bellamy! - Simkins hô to.
Bellamy vẫn tiếp tục chạy, ngoặt gấp, len lách qua những dãy sách. Mỗi lần ông rẽ, đèn trên đầu lại sáng lên.
Khi cả nhóm chỉ còn cách Bellamy chừng hai mươi thước, họ lại hô to nhưng viên Kiến trúc sư vẫn không dừng bước.
- Hạ ông ta đi! - Simkins ra lệnh.
Một đặc vụ vung khẩu súng an toàn của cả đội lên và bóp cò.
Loại đạn có biệt danh Dây nhợ Ngớ ngẩn vọt ra và quấn chặt lấy chân Bellamy, tên gọi như vậy nhưng nó chẳng hề ngớ ngẩn tí nào.
Là một công nghệ quân sự được sáng chế tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Sandia, “thứ công cụ vô hiệu hoá” không gây chết người này là một sợi polyurethane dính lớp nhớp có khả năng đông cứng ngay khi tiếp xúc, tạo thành một mạng chất dẻo cứng ngắc bám ở khoeo chân của kẻ chạy trốn. Hiệu ứng đối với mục tiêu di chuyển tương đương với cây gậy đâm ngang nan hoa xe đạp đang quay.
Chân Bellamy bị chụp dính khi đang nhấc lên, ông chúi người về phía trước và ngã nhào xuống sàn, trượt thêm mười bước nữa vào lối đi tối om rồi mới dừng lại được, những ngọn đèn trên đầu ông nhấp nháy lúc sáng lúc tắt.
- Tôi sẽ giải quyết Bellamy, - Simkins hô to - Các anh tiếp tục đuối theo Langdon! Hắn ta ở phía trước đấy…
Tay trưởng nhóm bỗng im bặt vì phát hiện ra những giá sách trước mặt Bellamy hoàn toàn tối om. Rõ ràng, không hề có ai khác chạy cùng viên Kiến trúc sư. Ông ta chỉ có một mình thôi sao.
Bellamy nằm sấp, thở nặng nhọc, chân và mắt cá dính đầy thứ chất dẻo đã đông cứng. Tay trưởng nhóm đặc vụ bước lại và dùng chân lật ông già nằm ngửa lên.
- Hắn đâu rồi?! - anh ta hỏi.
Môi Bellamy rớm máu do cú ngã.
- Ai ở đâu rồi?
Đặc vụ Simkins nhấc chân lên và đặt giày ngang chiếc cà vạt bằng lụa của Bellamy. Sau đó, anh ta nhấn chân xuống.
- Tin tôi đi, Bellamy, ông không muốn chơi trò này với tôi đâu.

Dan Brown
Biểu Tượng Thất Truyền
Dịch giả: Nguyễn Xuân Hồng
Chương 59

Robert Langdon cảm thấy mình như một xác chết.
Anh nằm ngửa, tay khoanh trên ngực, mắc cứng trong một không gian tù túng, tối như bưng. Katherine nằm cạnh đó trong tư thế tương tự, ngay trên đầu anh, nhưng Langdon không thể nào nhìn thấy cô.
Anh nhắm mắt lại để khỏi phải trông thấy, dẫu là trong một thoáng, tình trạng ngột ngạt của mình.
Không gian xung quanh anh thật chật chội.
Rất chật chội.
Mới sáu mươi giây trước, khi những cánh cửa đôi của phòng đọc sách đổ rầm xuống, anh và Katherine đã theo Bellamy chui vào khối tủ bát giác, chạy xuống cầu thang và ẩn mình trong khu vực ít ai ngờ bên dưới.
Langdon nhận ra ngay họ đang ở đâu. Trung tâm hệ thống lưuthông sách của thư viện. Tương tự hình ảnh thu nhỏ của khu trả hành lý ở sân bay, phòng lưu thông sách có rất nhiều băng chuyền bố trí theo nhiều hướng khác nhau. Thư viện Quốc hội được sắp xếp ở ba toà nhà tách biệt nên sách vở đưa lên phòng đọc thường phải vận chuyển bằng băng chuyền qua cả quãng dài những đường hầm trong lòng đất.
Bellamy lập tức băng ngang phòng đến một cánh cửa sắt, nhét thẻ cá nhân vào, bấm một chuỗi phím rồi đấy mạnh cửa. Không gian phía sau tối om, nhưng khi cửa mở, một loạt đèn cảm biến chuyển động lập tức nhấp nháy sáng.
Ngắm không gian trước mắt, Langdon nhận ra mình đang nhìn thấy thứ mà rất ít người từng thấy. Các giá sáchcủa Thư viện Quốc hội. Anh phấn chấn hơn về kế hoạch của Bellamy. Còn nơi ẩn náu nào tốt hơn một mê cung khổng lồ?
Thế nhưng Bellamy không dẫn họ về phía các giá sách. Thay vào đó ông chặn một cuốn sách vào khe cửa để giữ cho cửa mở rồi ngoảnh lại nói với hai người.
- Tôi hy vọng có thể giải thích được nhiều hơn với hai người, nhưng chúng ta không đủ thời gian - ông đưa thẻ của mình cho Langdon - Anh sẽ cần cái này.
- Ông không đi cùng chúng tôi sao? - Langdon hỏi.
Bellamy lắc đầu.
- Chúng ta mà cứ túm tụm với nhau thì chẳng làm ăn gì được cả. Điều quan trọng nhất là giữ kim tự tháp và phần chóp ở nơi an toàn.
Langdon không nhìn thấy đường thoát nào ngoại trừ lối thang bộ dẫn trở lại phòng đọc.
- Thế ông định đi đâu?
- Tôi sẽ lừa họ vào những giá sách để tránh xa chỗ hai người, - Bellamy nói - Đó là tất cả những gì tôi có thể làm để giúp các vị thoát ra.
Langdon chưa kịp hỏi xem anh và Katherine có thể đi, đâu thì Bellamy đã nhấc một thùng sách khá nặng ra khỏi băng chuyền.
- Nằm lên băng chuyền đi - ông dặn - Để tay gọn vào nhé.
Langdon trố mắt nhìn. Ông đùa đấy à! Băngchuyền trải ra thêm một đoạn ngắn rồi biến mất sau một cái lỗ đen ngòm trên tường. Cái lỗ trống khá lớn, đủ cho cả một thùng sách to lọt qua, nhưng cũng chí đến mức ấy thôi, không rộng hơn. Langdon liếc lại những giá sách.
- Thôi mà, - Bellamy nói - Đèn cảm biến chuyển động sẽ làm anh không trốn nổi đâu.
- Có dấu nhiệt! - một giọng nói vang lên phía trên - Các cánh dồn lại đi!
Rõ ràng Katherine đã hiểu được những việc cần làm. Cô leo lên băng chuyền, đầu chỉ cách cái lỗ có vài bước chân. Cô đặt chéo hai tay trên ngực như một xác ướp nằm trong quách.
Langdon đứng trơ ra.
- Robert, - Bellamy giục - dù anh không định làm vì tôi, thì cũng hãy làm vì Peter.
Giọng nói phía trên nghe đã gần hơn.
Như trong cơn mộng du, Langdon tiến lại băng chuyền. Anh quăng chiếc túi của mình lên trước rồi leo lên sau, đặt đầu ngay sát chân Katherine. Mặt chuyền cao su lạnh ngắt dưới lưng anh. Langdon trân trân nhìn trần nhà và cảm thấy mình như một bệnh nhân sắp được đưa vào máy cộng hưởng từ.
- Cứ bật điện thoại nhé, - Bellamy dặn - Sẽ có người gọi đến…và giúp anh. Cứ tin tưởng người ta.
Có người gọi đến ư? Langdon biết rằng Bellamy đã cố gắng liên hệ với ai đó nhưng không gặp, đành để lại tin nhắn. Chỉ vài phút trước, khi họ vội vã chạy xuống cầu thang xoắn trôn ốc, Bellamy cố gắng lần chót và gặp may, nhưng chỉ kịp thì thào vài câu vắn tắt bằng giọng rất vội vã rồi tắt máy.
- Cứ theo băng chuyền tới tận cùng, - Bellamy dặn - Và nhảy ra thật nhanh trước khi nó đưa các vị vòng trở lại. Dùng thẻ của tôi để thoát ra.
- Thoát ra khỏi đâu? - Langdon hỏi lại.
Nhưng Bellamy đã kéo các cần gạt. Tất cả băng chuyền trong phòng cùng rù rì khởi động. Langdon cảm thấy mình nảy lên và tiến tới trần nhà bắt đầu di chuyển phía trên.
Xin Chúa cứu con.
Khi băng chuyền tiến đến lỗ hổng trên tường. Langdon nhìn lại và thấy Warren Bellamy chạy băng qua cửa, lẩn vào giữa các giá sách.
Cửa sập lại. Một lát sau, bóng tối thư viện nuốt chửng lấy Langdon và Katherine Solomon… vừa lúc một đốm sáng la-de đỏ lòe nhảy nhót trên đường xuống cầu thang.

Nữ nhân viên lương thấp thuộc Phòng An ninh ưu tiên kiểm tra thật kỹ bảng ghi chép cuộc gọi để xác định địa chỉ ở Kalorama Heights. Phải đây không nhỉ? Lối xe chạy có cổng chắn trước mặt cô thuộc về một trong những khu nhà lớn nhất và yên tĩnh nhất địa bàn này, thành thử hơi lạ khi 911 lại nhận được một cuộc gọi khẩn cấp liên quan đến nó.
Đối với các cuộc gọi chưa chứng thực, 911 thường liên hệ với đơn vị an ninh khu vực trước khi huy động cảnh sát. Cô nhân viên an ninh hay nghĩ khẩu hiệu của đơn vị - “Phòng tuyến đầu tiên của các bạn” - rất dễ trở thành “báo động nhầm, giỡn chơi, chó mèo đi lạc, và lời ca than của những láng giềng lập dị”. Đêm nay, như mọi khi, cô đến đây mà không hề biết chi tiết về một mối lo cụ thể nào đó. Quá nhiều so với mức lương mình được trả.
Công việc của cô chỉ đơn giản là xuất hiện cùng với ngọn đèn vàng xoay tròn nhấp nháy, ước định tài sản và báo cáo bất kỳ điều gì khác thường. Đôi khi, một chuyện chẳng đâu vào đâu cũng có thể kích hoạt hệ thống báo động nhà dân, và cô chỉ cần dùng thẻ đặc biệt của mình để cài đặt lại chương trình là xong. Tuy nhiên, ngôi nhà này lại im lìm. Không có tiếng còi báo động. Từ ngoài đường nhìn vào, tất cả đều tối om và yên tĩnh.
Cô nhân viên an ninh gọi qua hệ thống điện thoại ở cổng, nhưng không có tiếng trả lời. Cô nhập mã ưu tiên của mình để mở cổng và cho xe chạy vào. Vẫn để xe nổ máy và đèn nóc nhấp nháy, cô tiến tới cửa trước và bấm chuông. Không ai trả lời. Không ánh đèn đóm và cũng chẳng có gì chuyển động.
Miễn cưỡng làm theo đúng thủ tục, cô bật đèn pin để bắt đầu đi tuần quanh ngôi nhà, kiểm tra cửa ra vào và cửa sổ xem có dấu hiệu đột nhập không. Khi cô vòng qua góc nhà, một chiếc Limousine dài màu đen phóng ngang cửa trước, hơi giảm tốc rồi chạy tiếp. Đám hàng xóm tọc mạch đây mà.
Cô từ từ đi vòng quanh nhà, nhưng chẳng phát hiện điều gì bất thường. Ngôi nhà rộng hơn cô nghĩ, khi ra đến sân sau, cô rùng mình vì lạnh. Rõ ràng nhà không có ai.
- Trung tâm? - cô gọi qua bộ đàm - Tôi đang gọi từ Kalorama Heights. Chủ nhà đi vắng. Không có dấu hiệu bất thường. Đã kiểm tra xung quanh. Không có vết tích đột nhập. Báo động nhầm.
- Tốt rồi, - trung tâm trả lời - Chúc ngủ ngon.
Cô nhân viên an ninh giắt bộ đàm vào thắt lưng, bắt đầu bước vòng trở lại, mong chóng quay trở vào chiếc xe ấm áp của mình. Tuy nhiên đang đi, cô bỗng chú ý một thứ mà lúc trước bỏ sót - một đốm sáng màu xanh rất nhỏ phía sau nhà.
Thắc mắc, cô lần tới chỗ đó và nhìn rõ nguồn phát sáng - một ô cửa sổ con ở vị trí rất thấp, chắc chắn là ở tầng hầm của ngôi nhà. Kính cửa sổ đã được làm tối lại, hình như bằng một lớp sơn bên trong. Chắc là một kiểu phòng tối đây? Cái đốm sáng xanh mà cô nhìn thấy phát ra qua một điểm nhỏ xíu trên cửa sổ nơi sơn đen bị tróc.
Cô cúi xuống, cố gắng nhìn qua, nhưng chẳng nhìn thấy gì nhiều qua cái lỗ bé xíu đó. Cô gõ nhẹ lên cửa sổ, băn khoăn không biết liệu có ai đó đang làm việc ở trong chăng.
- Xin chào? - cô gọi to.
Không có tiếng trả lời, nhưng khi cô gõ lên cửa sổ, mảng sơn đột nhiên tróc ra và rơi xuống, giúp cô nhìn rõ mọi thứ bên trong. Cô ghé xuống, gần như áp mặt vào cửa sổ để bao quát một lượt gian hầm. Cô lập tức ước sao mình chưa từng trông thấy gì cả.
Nhân danh đức Chúa, thứ gì vậy chứ?
Cô nhân viên an ninh chết khiếp, cứ cúi lom khom ở đó một lúc, trân trối ngó cảnh tượng khủng khiếp bày ra trước mắt. Cuối cùng, tay run bắn, cô lần tìm bộ đàm đeo ở thắt lưng.
Nhưng cô chẳng bao giờ tìm thấy nó.
Một cặp kìm điện áp mạnh vào gáy cô, liền đó là cơn đau buốt chạy suốt thân thể. Các cơ co rút lại, cô ngã chúi về phía trước, thậm chí còn không kịp nhắm mắt trước khi đập mặt xuống nền đất lạnh.

o0o0

Đêm nay không phải là lần đầu tiên Warren Bellamy bị bịt kín mắt.

Cũng như tất cả các huynh đệ Tam điểm, ông từng đội chiếc “mũ trùm” trong quá trình hành lễ để lên các cấp cao hơn của Hội. Tuy nhiên, tình trạng đó diễn ra giữa những bằng hữu đáng tin cậy. Còn tối nay thì khác. Mấy gã đàn ông tay chân thô bạo này trói nghiến ông lại, trùm một cái túi lên đầu ông và giờ đang kèm chặt ông đi qua các giá sách thư viện.

Đám đặc vụ đã đe doạ dùng vũ lực với Bellamy để truy hỏi xem Robert Langdon đang ở đâu. Biết rằng cái thân già của mình không thể chịu nổi đòn thù nên Bellamy đã nói dối họ thật nhanh.
- Langdon không hề theo tôi xuống đây! - ông vừa nói vừa gắng hớp không khí - Tôi đã bảo anh ấy chạy lên ban công và nấp sau bức tượng Moses, nhưng tôi không biết giờ anh ấy ở đâu!

Câu chuyện rõ ràng có sức thuyết phục vì hai đặc vụ vội vã chạy đuổi theo. Hai đặc vụ còn lại im lặng dẫn ông qua các giá sách.

Niềm an ủi duy nhất của Bellamy là biết rằng Langdon và Katherine đang đưa kim tự tháp đến nơi an toàn. Chỉ lát nữa sẽ có người liên lạc với Langdon và thu xếp cho anh một nơi nương náu.

Cứ tin tưởng người ta. Người ấy rất am hiểu Kim tự tháp Tam điểm và những bí mật liên quan đến nó, chẳng hạn vị trí của cầu thang xoáy bí mật dẫn xuống lòng trái đất, tới nơi cất giấu kho tri thức cổ xưa hùng mạnh đã được chôn giấu từ lâu. Khi cùng Langdon và Katherine Solomon chạy trốn khỏi phòng đọc, Bellamy đã liên lạc được với người đó, và ông tin tưởng rằng người đó hoàn toàn nắm bắt được điều ông muốn nói trong tin nhắn ngắn gọn của mình.

Lúc này, di chuyển trong bóng tối đặc quánh, Bellamy hình dung ra kim tự tháp và phần chóp bằng vàng nằm trong túi Langdon. Đã bao nhiều năm rồi, hai vật này mới xuất hiện trong cùng một căn phòng.

Bellamy không bao giờ quên được cái đêm đau đớn ấy. Đêm bắt đầu hàng chuỗi ngày tháng thống khổ của Peter. Bellamy được mời tới tư gia Solomon ở Potomac để dự lễ sinh nhật lần thứ 18 của Zachary Solomon: Zachary, mặc dù là một đứa trẻ nổi loạn, nhưng vẫn là một thành viên gia tộc Solomon, có nghĩa là tối nay, theo truyền thống gia đình, nó sẽ được nhận phần thừa kế. Bellamy là một trong những người bạn thân nhất của Peter, đồng thời cũng là một bằng hữu Tam điểm đáng tin cậy, nên được mời tham dự với tư cách nhân chứng.

Ông đến rất sớm và chờ đợi trong thư phòng riêng của Peter Solomon. Căn phòng cổ kính tuyệt vời này toát ra mùi da, mùi củi cháy, và mùi chè lá. Warren vừa ngồi xuống thì Peter dẫn cậu con trai Zachary vào phòng. Trông thấy Bellamy, thằng bé 18 tuổi gày gò cau mày.
- Ông làm gì ở đây thế?
- Làm nhân chứng ấy mà, - Bellamy đáp - Chúc mừng sinh nhật, Zachary nhé.
Thằng bé lầm bầm và nhìn đi chỗ khác.
- Ngồi xuống đi, Zach - Peter nói.
Zachary ngồi phịch xuống một chiếc ghế tựa trước bàn gỗ đồ sộ của cha mình. Solomon cài chốt cửa. Bellamy tìm một chỗ ngồi bên cạnh.
Solomon hỏi Zachary bằng một giọng nghiêm trang.
- Con có biết tại sao con ở đây không?
- Tôi nghĩ là có, - Zachary nói.
Solomon thở dài.
- Ba biết là đã lâu chúng ta không gặp nhau. Ba đã gắng hết sức để làm một người cha tốt và để chuẩn bị cho khoảnh khắc, này của con.
Zachary chẳng nói chẳng rằng.
- Con biết đấy, mọi đứa trẻ nhà Solomon, khi đến tuổi trưởng thành đều được tặng món quà thừa kế là một phần tài sản gia đình, với hy vọng nó là hạt giống… một hạt giống cho con trưởng thành và sử dụng để đóng góp vào sự phát triển của nhân loại.
Solomon đi tới một cái hốc trên tường, mở khoá và lấy ra một túi tài liệu lớn màu đen.
- Con trai, tập hồ sơ này chứa tất cả những gì cần thiết để chuyển phần tài sản thừa kế sang tên con - ông đặt nó lên bàn - Mục đích là mong con sử dụng số tiền này để xây dựng một cuộc sống ý nghĩa, thịnh vượng và bác ái.
Zachary với lấy tập hồ sơ.
- Cảm ơn.
- Gượm đã, - Peter ngăn lại, tay chặn lên tập hồ sơ - Có vài điều ba cần giải thích.
Zachary ném cho cha một cái nhìn khinh khỉnh và ngồi phịch xuống ghế.
- Có nhiều khía cạnh liên quan đến phần thừa kế của gia đình Solomon mà con chưa rõ hết - Người cha đăm đăm nhìn thẳng vào mắt Zachary - Con là con trai lớn của ba, Zachary, nghĩa là con được phép lựa chọn.
Thằng bé nhổm dậy, trông đầy hào hứng.
- Lựa chọn này có thể quyết định hướng đi tương lai của con, vì thế ba khuyên con hãy cân nhắc cho thật kỹ.
- Lựa chọn gì?
Cha nó hít một hơi thật sâu.
- Lựa chọn…tiền bạc hoặc tri thức.
Zachary nhìn cha bằng ánh mắt vô cảm.
- Tiền bạc hoặc tri thức à? Tôi chẳng hiểu.

Solomon đứng dậy, lại tiến đến cái hốc, rồi bê ra một kim tự tháp đá nặng trịch mang đầy vết chạm khắc các biểu tượng của Hội Tam điểm. Peter đặt nó lên bàn, cạnh tập hồ sơ.
- Kim tự tháp này ra đời rất lâu rồi, và được giao phó cho gia đình ta đã bao thế hệ.
- Kim tự tháp à? - Zachary chẳng lấy gì làm hứng thú.
- Con trai, kim tự tháp này là một tấm bản đồ…cho biết vị trí của một trong những kho báu thất lạc lớn nhất trên đời. Tiền nhân tạo ra bản đồ để một ngày nào có thể tìm lại kho báu - Giọng Peter trở nên đầy tự hào - Và tối nay, theo truyền thống, ba có thể giao nó cho con…với những điều kiện nhất định.
Zachary nghi ngờ ngó cái kim tự tháp.
- Kho báu gì cơ?
Bellamy dám khẳng định rằng bạn mình không mong đợi một câu hỏi sỗ sàng như thế. Tuy nhiên, Peter vẫn rất kiên nhẫn.
- Zachary, thật khó giải thích nếu như không hiểu biết nhiều. Nhưng kho báu này…về cơ bản…được gọi là những Bí ẩn Cổ xưa.
Zachary phá lên cười sằng sặc, rõ ràng cho rằng cha nó đang đùa.
Bellamy nhận ra vẻ u uất tăng lên trong mắt Peter.
- Ba không biết diễn giải thế nào cho dễ hiểu, Zach ạ. Theo truyền thống, khi một đứa trẻ nhà Solomon được 18 tuổi, nó sẽ bắt đầu những năm tháng học hành cao hơn về…
- Tôi đã bảo rồi! - Zachary vặc ngay - Tôi không thích học đại học!
- Ba không nói đến đại học, - Giọng Peter vẫn rất bình tĩnh và nhẹ nhàng - Ba đang nói về Hội Tam điểm, về một nền giáo dục tập trung vào những bí ẩn của khoa học nhân loại. Nếu con muốn cùng ba gia nhập hàng ngũ của họ, con sẽ nhận được học vấn cần thiết để ý thức được tầm quan trọng của quyết định tối nay.
Zachary đảo mắt.
- Xin miễn cho tôi bài giảng đó đi. Tôi biết tôi là thành viên đầu tiên nhà Solomon không muốn gia nhập Hội Tam điểm. Nhưng có sao? Ông không hiểu điều đó ư? Tôi không hứng thú với việc chải chuốt cùng một đám toàn những lão già!
Cha nó im lặng một lúc lâu. Bellamy nhận thấy những nếp nhăn tuổi tác đã bắt đầu xuất hiện quanh đôi mắt vẫn còn trẻ trung của Peter.
- Có ba hiểu, - cuối cùng Peter lên tiếng.- Thời đại thay đổi rồi. Ba biết rằng đối với con, Hội Tam điểm có vẻ quá xa lạ, thậm chí còn quá tẻ nhạt. Nhưng ba muốn con nhớ, rằng cánh cửa sẽ vẫn luôn rộng mở nếu con thay đổi suy nghĩ.
- Đừng phí thời gian, - Zach càu nhàu.
- Thế là đủ! - Peter ngắt lời và đứng dậy - Ba nhận thấy cuộc đời là một cuộc đấu tranh đối với con, Zachary ạ, nhưng ba không phải là cọc chỉ đường duy nhất của con. Còn có những người tốt bụng khác đang chờ con, sẵn sàng chào đón con vào Hội Tam điểm và chỉ cho con thấy những tiềm năng đích thực của bản thân.
Zachary cười khùng khục và liếc sang Bellamy.
- Có phải vì thế mà ông ở đây không, ông Bellamy? Để hai huynh đệ Tam điểm các người kéo bè kéo cánh áp đảo tôi?
Bellamy im lặng, chỉ hướng cái nhìn kính cẩn về phía Peter Solomon, như nhắc cho Zachary biết ai là người nắm quyền lực trong căn phòng này.
Zachary ngoảnh sang nhìn cha mình.
- Zach, - Peter lên tiếng - chúng ta chưa đi tới đâu cả…hãy để ba nói với con điều này. Dù con có hiểu trách nhiệm đặt lên vai mình tối nay hay không, thì gia đình vẫn có nghĩa vụ giao phó nó lại cho con - ông ra dấu về phía kim tự tháp - Bảo vệ ngọn tháp là một đặc quyên hiếm hoi. Ba khuyên con nên dành vài hôm suy nghĩ về cơ hội này rồi hẵng đưa ra quyết định.
- Cơ hội ư? - Zachary khiêu khích - Ngồi trông một hòn đá ư?
- Trên đời này có rất nhiều bí mật vĩ đại, Zach ạ, - Peter nói kèm một tiếng thở dài - Những bí mật vượt hẳn mọi tưởng tượng của con.
Ngọn tháp này bảo vệ những bí mật ấy. Quan trọng hơn là sẽ đến một lúc, biết đâu ngay trong cuộc đời con thôi, chúng ta sẽ giải mã được kim tự tháp và khai phá những bí mật bên trong. Đó là thời điểm vĩ đại cho quá trình chuyển hoá của con người… và con có cơ hội đóng một vai trò trong thời khắc ấy. Ba muốn con hãy cân nhắc thật cẩn thận. Tiền bạc rất sẵn, nhưng tri thức thì vô cùng hiếm hoi - ông ra dấu về phía tập tài liệu và sau đó về kim tự tháp - Ba mong con nhớ, rằng tiền bạc mà thiếu tri thức thì thường dẫn đến một kết cục thảm hại.
Nét mặt Zachary cho thấy nó đang nghĩ rằng cha mình loạn trí.
- Cho dù ông nói gì, thưa ông bô, thì cũng không có chuyện tôi từ chối phần thừa kế của mình vì thứ này - Nó trỏ kim tự tháp.
Peter khoanh tay trước ngực.
- Nếu con chọn chấp nhận trách nhiệm, ba sẽ giữ hộ tiền và kim tự tháp cho tới khi con hoàn thành quá trình giáo dục trong Hội Tam điểm. Việc này phải mất hàng năm trời, nhưng con sẽ đủ chín chắn khi nhận cả hai thứ. Tiền bạc và tri thức. Một sự kết hợp hùng mạnh.
Zachary nhảy nhổm lên.
- Lạy Chúa, ông bô ơi! Ông không chịu thôi đi à? Ông không thấy rằng tôi chẳng quan tâm mẹ gì đến Hội Tam điểm, kim tự tháp đá cùng những bí mật cổ lỗ à? - Nó cúi xuống và nhặt lấy tập hồ sơ màu đen, huơ huơ trước mặt cha mình - Đây là quyền thừa kế của tôi! Quyền thừa kế của các thành viên nhà Solomon trước đây! Tôi không tin thể tin nổi là ông lại định lừa tôi từ chối món thừa kế này bằng mấy câu chuyện vớ vẩn về bản đồ mới cả kho báu! - Nó kẹp tập hồ sơ dưới nách, bước qua mặt Bellamy ra cửa phòng.
- Zachary, đợi đã! - Peter chạy theo khi Zachary bước vào bóng đêm - Dù làm gì, con cũng đừng bao giờ tiết lộ về cái kim tự tháp vừa nãy! - Giọng ông thất thanh - Đừng hé ra với bất kỳ ai! Đừng bao giờ!
Zachary không buồn trả lời, cứ thế biến thẳng vào đêm tối.
Peter Solomon quay lại bàn của mình và ngồi phịch xuống chiếc ghế da, đôi mắt xám đong đầy đau khổ. Im lặng hồi lâu, ông nhìn lên Bellamy và cố nở một nụ cười.
- Thế đấy?
Bellamy thở dài, cùng chia sẻ nỗi đau của bạn.
- Peter, tôi không muốn tỏ ra thiếu tế nhị…nhưng…anh tin nó ư?
Solomon trân trân nhìn khoảng không.
- Ý tôi là - Bellamy nhấn mạnh - đừng nên nói gì về cái kim tự tháp cả.
Gương mặt Solomon vô hồn.
- Tôi thực sự không biết phải nói gì, Warren. Tôi không chắc mình còn hiểu nó nữa không.
Bellamy đứng lên và chậm rãi đi đi lại lại trước chiếc bàn lớn.
- Peter, anh đã tuân theo nghĩa vụ của gia đình, nhưng giờ đây, xem xét những gì vừa diễn ra, tôi nghĩ chúng ta cần thận trọng. Tôi phải giao lại cho anh cái chóp để anh tìm một nơi mới cho nó. Cần có ai đó khác trông nom nó.
- Tại sao? - Solomon hỏi.
- Nếu Zachary bép xép với người ngoài về cái kim tự tháp… và nhắc đến sự có mặt của tôi hôm nay…
Nó chẳng biết gì về cái chóp, và nó còn quá dại khờ nên không thể hiểu được ý nghĩa quan trọng của kim tự tháp. Không cần một chỗ mới cho nó đâu. Tôi sẽ giữ cái kim tự tháp trong hốc tường, và anh cứ để cái chóp ở đúng chỗ anh giữ. Như chúng ta vẫn làm bấy nay.
Chỉ sáu năm sau, vào ngày Giáng sinh, trong khi gia đình vẫn chưa nguôi ngoai về cái chết của Zachary, một gã đàn ông cao lớn tuyên bố đã giết thằng bé trong ngục đột nhập vào nhà Solomon.
Mục tiêu của hắn là cái kim tự tháp, nhưng cuối cùng hắn lại tước đoạt sinh mạng của Isabel Solomon.
Mấy ngày sau, Peter triệu tập Bellamy đến văn phòng. Ông khoá chặt cửa lại và nhấc kim tự tháp ra khỏi hốc tường, đặt nó lên bàn giữa hai người.
- Lẽ ra tôi nên nghe theo anh.
Bellamy biết Peter rất day dứt vì sai lầm vừa rồi.
- Sẽ ổn thôi mà.
Solomon mệt mỏi thở hắt ra.
- Anh có mang theo cái chóp không?
Bellamy rút từ trong túi ra một gói hình hộp vuông vức nhỏ nhắn. Lớp giấy nâu đã ngả màu được buộc chắc bằng dây và đóng dấu sáp hình chiếc nhẫn của Solomon. Bellamy đặt cái gói lên bàn, biết rằng đêm nay hai nửa của Kim tự tháp Tam điểm đã ở gần nhau hơn thường lệ.
- Hãy tìm ai khác trông giữ thứ này. Đừng nói cho tôi biết người đó là ai.
Solomon gật đầu.
- Tôi biết một chỗ anh có thể giấu kim tự tháp - Bellamy đề xuất. Ông cho Solomon biết về tầng đáy Điện Capitol - Chẳng đâu ở Washington an toàn hơn nó.

Bellamy nhớ lại rằng Solomon đã rất thích thú với ý tưởng đó, bởi vì quả là rất thích hợp khi cất giấu cái kim tự tháp ở ngay trái tim biểu tượng của quốc gia, đúng là Solomon, Bellamy nghĩ thầm. Một người luôn lý trí hoá mọi việc ngay cả khí gặp khó khăn.

Mười năm sau ngày ấy, bị bịt mắt dẫn đi trong Thư viện Quốc hội, Bellamy hiểu rằng khó khăn tối nay còn lâu mới kết thúc. Lúc này, ông đã biết Solomon chọn ai để bảo vệ cái chóp…và ông cầu Chúa cho Robert Langdon hoàn tất nhiệm vụ.

Hết chương 28.